CHƯƠNG 1. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HỘI NHẬP KHU VỰC THEO XU HƯỚNG CÁNH TẢ Sự hình thành và phát triển của xu hướng hội nhập khu vực cánh tả ở Mỹ Latinh vào đầu thế kỉ 21 là nhờ sự hội tụ của các điều kiện thuận lợi ở cả trong và ngoài khu vực. Trong nội bộ khu vực, các điều kiện thuận lợi đến từ tình hình chính trị chung của khu vực cũng như của riêng từng nước, đồng thời cũng đến từ các chia sẻ về điều kiện về kinh tế, lịch sử, văn hóa, xã hội của các nước MLT. Đối với các tác động từ bên ngoài, quá trình toàn cầu hóa kinh tế cũng như quá trình định hình một trật tự thế giới mới là hai nhân tố tác động chủ yếu đến xu hướng hội nhập khu vực mới này của các nước MLT.
Các yếu tố trong khu vực 1. Các điều kiện chính trị thuận lợi Tình hình chính trị mới của các nước Mỹ Latinh sau khi thoát khỏi “bóng ma” của chủ nghĩa độc tài quân sự từ cuối thế kỉ 20 đã tạo điều kiện cho các sinh hoạt chính trị dân chủ được phát triển trong khu vực. Đây chính là một biến đổi sâu sắc nhất của các nước Mỹ Latinh kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1939- 1945). Các lực lượng cánh tả trong khu vực đã lên cầm quyền trong bối cảnh này, mở ra một xu hướng mới trong tiến trình hội nhập khu vực.
Làn sóng dân chủ hóa ở Mỹ Latinh sau Chiến tranh Lạnh Trong thời kì Chiến tranh Lạnh, đặc biệt là trong những thập niên 1970- 1980, ở khu vực Mỹ Latinh tồn tại nhiều chính quyền độc tài quân sự kéo dài, từ gia đình Somoza ở Nicaragua (1936- 1979), Alfredo Stroessner (1954- 1989) ở Paraguay, Hugo Banzer ở Bolivia (1971- 1979), đến Agusto Pinochet Ugarte ở Chile (1973- 1990). Về mặt chính trị, các chính quyền độc tài của các tướng lĩnh quân sự đàn áp các lực lượng đối lập, các phong trào xã hội, hạn chế các quyền dân sự của công dân. Các lực lượng cánh tả trong khu vực thuộc nhóm đối tượng đàn áp chủ yếu của các chính quyền quân sự cánh hữu này. Về mặt đối ngoại, các chính quyền quân sự đều nhận được sự ủng hộ của chính quyền Mỹ trong việc duy trì quyền lực, do đó 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có xu hướng thân Mỹ và gắn với các lợi ích của chính phủ và các tập đoàn của Mỹ ở khu vực, ở một mức độ nhất định.
Về mặt kinh tế, nhằm tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của Mỹ trong phát triển kinh tế đất nước, các chính quyền quân sự ở Mỹ Latinh đã chấp nhận các cải cách kinh tế theo khuôn khổ của lý thuyết “tự do mới” (neo-liberalism) dưới hình thức các khuyến nghị chính sách của các học giả theo trường phái Chicago. Chile dưới thời Tướng Pinochet (1973- 1990) là nước đầu tiên áp dụng các biện pháp này từ năm 1973, sau khi Tướng Pinochet làm đảo chính lật đổ chính phủ cánh tả của Tổng thống Salvador Allende (1970- 1973). Các nước khác thì muộn hơn sau đó khoảng 10- 15 năm, khi các chính quyền quân sự dần đi đến chỗ sụp đổ. Việc thực thi các chính sách theo lý thuyết “tự do mới” này đã đưa đến chiến lược công nghiệp hóa hướng ra xuất khẩu (export-oriented industrialization/EOI), thay cho chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu (import substitution industrialization/ISI) đã bộc lộ những hạn chế rõ ràng, cản trở sự phát triển kinh tế của các nước trong khu vực.
Tuy nhiên, đến cuối những năm 1980, khi các chính sách kinh tế “tự do mới” bước đầu được triển khai bởi các chế độ độc tài quân sự chỉ giúp các nước đạt được những kết quả khiêm tốn về mặt phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân. Không những vậy, các vấn đề về kinh tế và chính trị của khu vực trở nên trầm trọng thêm. Thập kỉ 1980 được coi là “thập kỉ mất mát” của các nước Mỹ Latinh. Sau thất bại của Argentina trước Anh trong việc tranh chấp quần đảo Manvinas/Falkland (1982), chính quyền độc tài quân sự của Tướng Jorge Rafael Videla (1976- 1983) ở nước này đã bị lật đổ.
Kể từ đó, một làn sóng kéo dài trong những năm 1980 là sự sụp đổ lần lượt và không thể tránh khỏi của chính quyền quân sự ở các nước trong khu vực. Quá trình dân chủ hóa đất nước được khởi động và đi vào hiện thực khi các chính phủ dân sự lên cầm quyền ở một loạt nước Mỹ Latinh. Mọi mặt sinh hoạt của đất nước cũng dần được dân chủ hóa. Cùng với quá trình dân sự hóa trong khu vực là sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh trên thế giới, chấm dứt cuộc đối đầu Đông-Tây mang màu sắc phân chia ý thức hệ.
Khi cuộc đối đầu Đông-Tây chấm dứt thì các nước Mỹ Latinh cũng phải đối mặt 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với những vấn đề căn bản và bức thiết của chính mình, vốn bị che lấp bởi những xung đột và đối đầu của Chiến tranh Lạnh. Đó là độc lập, chủ quyền cả về kinh tế và chính trị, giải quyết đói nghèo, bất bình đẳng và tiến bộ xã hội. Tuy nhiên, quá trình dân chủ hóa xã hội cũng đã mở ra nhiều khả năng cho các nước Mỹ Latinh trong việc vận dụng tối đa nội lực cũng như liên kết với bên ngoài để giải quyết những vấn đề nhức nhối của đất nước trên bước đường phát triển. Chính trong bối cảnh này, các lực lượng cánh tả ở khu vực, sau khi tự điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu của bối cảnh mới đã nổi lên như các lực lượng đi đầu trong các cải cách mạnh bạo nhằm giải quyết những vấn đề của các nước, của khu vực.
Sự nổi lên của cánh tả và nhu cầu hội nhập mới Sự nổi lên mạnh mẽ của các lực lượng cánh tả ở Mỹ Latinh đầu thế kỉ 21 có liên quan chặt chẽ đến những bất ổn trong khu vực do sự thất bại của việc thực thi các chính sách kinh tế “tự do mới”. Mặc dù, các chính sách kinh tế tự do mới cũng đã đem lại những thay đổi đáng kể cho các nước Mỹ Latinh. Đó là giúp “giải phóng” năng lực sản xuất, cải thiện tình trạng trì trệ của kinh tế trong nước nhờ mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm khỏi quy mô thị trường nội địa nhỏ bé của các nước Mỹ Latinh, vốn vẫn là các nước nghèo khó thuộc Thế giới thứ Ba, mở ra các thị trường tiêu thụ ở châu Âu và Bắc Mỹ. Thứ hai, việc mở cửa nền kinh tế giúp tiếp nhận dòng vốn từ các nước phát triển bên ngoài khu vực đã góp phần cải tạo hệ thống cơ sở hạ tầng yếu kém, lạc hậu của các nước Mỹ Latinh sau khoảng 40 năm (đến những năm 1980) thực hiện chiến lược phát triển kinh tế hướng nội.
Mặt khác, các chính sách khuyến khích tư nhân hóa nền kinh tế cũng như khuyến khích tự do kinh doanh, giảm bớt các hàng rào ngăn cản tự do lưu thông hàng hóa giữa các nước trong khu vực cũng như với các khu vực, quốc gia khác trên thế giới đã giúp cho nền kinh tế các nước MLT, ở mức độ nào đó, trở nên năng động hơn, thích ứng nhanh hơn với các nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, những vấn đề mà chiến lược phát triển này để lại cho các nước Mỹ Latinh cũng vô cùng nặng nề. Việc tư nhân hóa ồ ạt khu vực kinh tế quốc doanh đã dẫn đến sự thất thoát lớn tài 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sản của nhà nước vào tay một số ít người lợi dụng kẽ hở pháp luật để trục lợi. Mặt khác, việc tư nhân hóa triệt để các doanh nghiệp nhà nước cũng dẫn đến việc suy giảm vai trò sâu sắc của các tổ chức công đoàn mạnh và được tổ chức tốt trước đó – vốn là một điểm nổi bật của phong trào lao động ở Mỹ Latinh cũng như đẩy hàng triệu người lâm vào cảnh khó khăn trong việc thích nghi và tìm kiếm công việc mới.
Điều này đặc biệt trở nên nghiêm trọng khi các nước trong khu vực bị cuốn vào một “cuộc chạy đua xuống đáy” (race-to-bottom3) nhằm thu hút dòng vốn đầu tư từ bên ngoài vào khu vực. Các vấn đề về lao động, xã hội, môi trường bị đẩy xuống dưới các thứ tự ưu tiên về kinh tế, thuận lợi hóa thương mại. Tình trạng khủng hoảng nợ nước ngoài vẫn còn trầm trọng khi việc vay nợ ngày càng tăng về số lượng thì việc sử dụng các khoản vay của các nước này lại thiếu hiệu quả một cách rõ rệt do yếu kém về năng lực và tham nhũng phổ biến. Trong những năm 1990, nợ cả trong nước và nước ngoài, của các nước Mỹ Latinh vẫn là một vấn đề nan giải, cản trở sự phát triển kinh tế lành mạnh của các nước trong khu vực.
Trong khoảng thời gian các cải cách kinh tế “tự do mới” được áp dụng thì số nợ nước ngoài của Mỹ Latinh và Caribe vẫn tăng lên 1,5 lần từ 453,3 tỉ USD năm 1991 lên 644,6 tỉ USD vào năm 1997. Ba nền kinh tế lớn nhất trong khu vực là Brazil, Mexico và Argentina cũng lần lượt là những nước có số nợ lớn nhất. 3 “Race-to-bottom” được hiểu là thuật ngữ mang tính so sánh việc cạnh trạnh hạ thấp các điều kiện để nhằm tạo lợi thế so với các bên cạnh tranh, về lâu dài sẽ dẫn tới việc đưa các tiêu chuẩn xuống dưới mức hợp lí và gây hại. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Thống kê số nợ nước ngoài của các nước Mỹ Latinh và Caribe, 1991- 1997 Nguồn: www.info Về mặt xã hội, tỉ lệ người nghèo có giảm trong giai đoạn từ 1987- 1993, sau đó chững lại và có xu hướng tăng lên vào giai đoạn 1999- 2002 (xem biểu đồ 1.2) do những tác động của các cuộc khủng hoảng tài chính mà các nước Mỹ Latinh gặp phải liên tiếp trong giai đoạn này: Mexico 1994, Brazil 1998, và Argentina năm 2001. Trong khi, còn một vấn đề nghiêm trọng nữa của Mỹ Latinh do các chính sách kinh tế tự do mới để lại là sự bất bình đẳng sâu sắc về mặt kinh tế giữa các nhóm, các tầng lớp trong xã hội. Sự bất bình đẳng thể hiện rõ rệt qua sự phân bổ thu nhập, đặc biệt là chênh lệch giữa nhóm 20% giàu nhất, chiếm đến 50% thu nhập, và nhóm 20% nghèo nhất là 10 lần (xem biểu đồ 1.3) 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Số lượng và tỉ lệ người nghèo ở Mỹ Latinh và Caribe, 1981- 2012 Nguồn: ECLAC (2012) Biểu đồ 1.