CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ TOÁN VÀ DỰ TOÁN DỰA TRÊN CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG 1.1 Tổng quan về dự toán 1.1 Khái niệm Khái niệm dự toán “Budget” đã được sử dụng từ rất lâu, theo từ điển Oxford khái niệm này có nguồn gốc từ Latin có nghĩa gốc là túi hoặc ví. Giữa thế kỷ 18, Bộ trưởng tài chính Anh trong khi trình bày báo cáo của mình có đề cập đến việc “mở Dự toán”. Đến cuối thế kỷ thứ 19, thuật ngữ này được sử dụng phổ biến trong trong cả các lĩnh vực tài chính cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ. Theo Noreen, Brewer và Garrison (2011, p.288) dự toán là kế hoạch định lượng cho việc huy động và sử dụng các nguồn lực cho một giai đoạn nhất định.
Theo Weygandt, Kimmel và Kieso (2012, p.384), dự toán là một bảng báo cáo chính thức bằng văn bản về kế hoạch của nhà quản lý cho một giai đoạn tương lai nhất định và được thể hiện dưới dạng số liệu, thuật ngữ tài chính. Cũng theo nghiên cứu của Michael Goode và Ali Malik (2011), có rất nhiều khái niệm về dự toán được sử dụng, ví dụ: Bhimani và các tác giả (2008) định nghĩa dự toán là một kế hoạch định lượng ở tương lai được tạo ra bởi các nhà quản lý để hỗ trợ cho việc thực thi các kế hoạch này. Becker và các tác giả (2009) khẳng định quan điểm chung cho rằng dự toán là một phần cấu trúc nên hệ thống kế toán quản trị. Theo Barfield, Raiborn và Kinney (2003, p.552), dự toán là kết quả của quá trình lập dự toán, nó thể hiện cam kết của một tổ chức về việc huy động và sử dụng nguồn lực cho các hoạt động được lập kế hoạch.
Những cam kết này dựa trên các dự đoán, định ước và một sự hứa hẹn chung để hoàn tất các kết quả đã được thỏa thuận trước. Như vậy, từ các khái niệm trên chúng ta có thể thấy được những đặc điểm chung trong các khái niệm về dự toán như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 • Kế hoạch tương lai: dự toán luôn được lập cho những giai đoạn ở tương lai chứ không phải ở hiện tại và quá khứ. • Định lượng: thể hiện dưới dạng các con số. • Trách nhiệm lập: các nhà quản lý.
• Liên quan đến: tất cả các hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức.2 Mục đích của dự toán Theo Rickards (2006), chức năng chính của dự toán là giúp triển khai chiến lược của doanh nghiệp chứ không chỉ dừng lại ở kiểm soát và lập kế hoạch. Trong báo cáo trình bày tại Hội thảo thường niên lần 15 tại Boston, Hoa kỳ năm 2008 về các tiến bộ trong quản lý, tác giả Nuno Pina trình bày kết quả nghiên cứu về mối liên hệ giữa quá trình lập dự toán và chiến lược tại công ty Vodafone cho thấy sự liên kết giữa quá trình lập dự toán và chiến lược của công ty có thể đạt được thông qua các yếu tố: văn hóa, sự truyền đạt thông tin, trách nhiệm, các phản hồi và các chỉ số phi tài chính. Theo Noreen, Brewer và Garrison (2011), dự toán được sử dụng cho hai mục đích khác biệt là hoạch định và kiểm soát. Hoạch định liên quan đến xây dựng các mục tiêu và chuẩn bị các loại nguồn lực cho việc đạt được các mục tiêu đó.
Kiểm soát liên quan đến các bước được thực hiện bởi quản lý để gia tăng khả năng tất cả các bộ phận của tổ chức phối hợp làm việc với nhau để đạt được các mục tiêu đã thiết lập trong giai đoạn hoạch định. Để hiệu quả thì một hệ thống dự toán phải cung cấp thông tin cho cả việc hoạch định và kiểm soát, hoạch định tốt mà không kiểm soát hữu hiệu sẽ tốn thời gian và nguồn lực. Như vậy, dự toán được sử dụng phổ biến trong các tổ chức với ba mục đích chính là giúp triển khai chiến lược của tổ chức, phục vụ cho việc hoạch định và kiểm soát. Với ba mục đích này thì các vai trò của sự toán sẽ được thể hiện chi tiết trong phần tiếp theo của nghiên cứu này.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Vai trò của dự toán Một nghiên cứu của Dugdale và Lyne (2006) đối với 40 nhà quản lý cho thấy việc lập dự toán khá phổ biến. Kết quả cho thấy tất cả các doanh nghiệp tham gia đều sử dụng dự toán và khi được sử dụng kết hợp với các công cụ khác, dự toán có thể được sử dụng để làm hài hòa, thúc đẩy và kiểm soát các chức năng và bộ phận trong doanh nghiệp. Theo Drury (2008), có 6 chức năng của dự toán truyền thống: • Chi tiết kế hoạch dài hạn của doanh nghiệp • Phối hợp các bộ phận khác nhau và hỗ trợ cải thiện mối quan hệ giữa các bộ phận • Truyền tải ý tưởng và mong đợi từ các nhà quản lý đến tất cả các nhân viên • Thúc đẩy các nhà quản lý đạt được các mục tiêu và thách thức • Kiểm soát các hoạt động kinh doanh thông qua phân tích các biến để xác định các khu vực cần đặt trọng tâm giải quyết. • Đánh giá thành quả thực hiện của các nhà quản lý trong mối quan hệ với các mục tiêu đã thiết lập.
Cũng theo Noreen, Brewer và Garrison (2011), vai trò của dự toán được thể hiện thông qua các lợi ích sau: • Dự toán truyền đạt được kế hoạch của quản lý xuyên suốt tổ chức. • Dự toán tạo áp lực cho nhà quản lý suy nghĩ và lập kế hoạch cho tương lai. Nếu không có dự toán rất có thể các nhà quản lý sử dụng toàn thời gian vào các hoạt động xử lý sự vụ hàng ngày. • Quá trình lập dự toán cung cấp một phương tiện cho việc phân bổ nguồn lực cho các bộ phận có khả năng sử dụng hiệu quả nguồn lực đó.
• Quá trình lập dự toán có thể phát hiện các trở ngại trước khi nó xảy ra. • Dự toán có thể điều phối các hoạt động trong toàn tổ chức bằng cách tương tác, phối hợp các kế hoạch của các bộ phận. Dự toán giúp cho việc đảm bảo mỗi cá nhân trong tổ chức cùng hướng về một mục tiêu, hướng đi chung. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 • Dự toán xác định mục tiêu và kết quả dùng để phục vụ cho việc đánh giá sự thực hiện.
Ngoài ra, theo các tác giả Susan Crosson và Belverd Needles (2011), dự toán có các lợi ích sau: • Dự toán tạo điều kiện và khuyến khích cho việc truyền đạt thông tin trong tổ chức. • Dự toán đảm bảo cho việc tập trung vào cả các sự kiện tương lai và giải quyết các vấn đề hiện tại hoạt động của tổ chức. • Dự toán phân bổ nguồn lực và trách nhiệm đến các nhà quản lý. • Dự toán thúc đẩy sự tương đồng giữa mục tiêu cá nhân và mục tiêu tổ chức.
• Dự toán xác định mục tiêu và kết quả của tổ chức dưới dạng các con số và trên cơ sở đó các kết quản thực hiện sẽ được đo lường, đánh giá. Thêm vào đó, theo Weygandt, Kimmel & Kieso (2012), các lợi ích chính của việc lập dự toán bao gồm: • Dự toán yêu cầu tất cả cấp quản lý phải lập kế hoạch và thiết lập các mục tiêu định kỳ. • Dự toán cung cấp các mục tiêu xác định cho việc đánh giá thành quả thực hiện tại các mức độ trách nhiệm khác nhau. • Dự toán tác động đến sự nhận thức của nhà quản lý về các hoạt động trong tổ chức và các ảnh hưởng của các yếu tố bên trong, bên ngoài đến các hoạt động này.
Như vậy, tổng hợp vai trò của dự toán theo các nghiên cứu trên cho thấy tầm quan trọng của dự toán trong quá trình quản lý của tổ chức từ khi lập kế hoạch cho đến khi thực hiện, kiểm soát thực hiện và đến khi đo lường, đánh giá kết quả thực hiện được.4 Quá trình lập dự toán Theo Drury (2001), các giai đoạn trong quá trình lập dự toán bao gồm: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 • Truyền đạt chi tiết chính sách và hướng dẫn lập dự toán đến những người có trách nhiệm cho việc chuẩn bị lập dự toán. • Xác định các nhân tố giới hạn đầu ra. • Chuẩn bị và lập dự toán bán hàng. • Chuẩn bị và lập các dự toán khác.
• Thảo luận dự toán với cấp quản lý. • Phối hợp và ra soát các dữ liệu. • Phê duyệt dự toán. • Tiếp tục quá trình ra soát định kỳ các dự toán khi thực hiện.
Theo các tác giả Susan Crosson và Belverd Needles (2011), quá trình lập dự toán trải qua các thủ tục sau: • Xác định mục đích của việc lập dự toán, và phân công trách nhiệm rõ ràng cho các cá nhân chịu trách nhiệm tiến hành các công việc lập, tổng hợp và phê duyệt dự toán. • Xác định các nhóm người sử dụng và các thông tin cần thiết cho các nhóm. • Xác định các nguồn thông tin chính xác, hữu ích cho việc lập dự toán. Các nguồn thông tin này có thể thu thập từ các tài liệu hoặc phỏng vấn nhân viên, quản lý, nhà cung cấp…hoặc những người có liên quan.
• Thiết lập khuôn mẫu rõ ràng và chi tiết về các loại dự toán. • Sử dụng các công thức và tính toán thích hợp để hình thành các thông tin định lượng. • Rà soát dự toán để đảm bảo bao gồm đầy đủ các quyết định đã dự kiến cho đến khi dự toán cuối cùng được phê duyệt. Rich và các tác giả (2010) lại đề cập quá trình lập dự toán như là một phần trong quá trình lập kế hoạch của tổ chức trong đó quá trình lập dự toán liên quan đến kế hoạch trong ngắn hạn của tổ chức.
Các tác giả Noreen, Brewer và Garrison (2011) thì không đề cập đến các giai đoạn hay thủ tục trong quá trình lập dự toán nhưng có đề cập đến quá trình lập dự toán ở các tổ chức khác nhau thì khác nhau. Tuy nhiên các tác giả cũng đề cập đến LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 vai trò của Ủy ban dự toán có trách nhiệm quy định đến quá trình lập dự toán tại các tổ chức và quá trình lập ra tổng thể dự toán. Tóm lại, có thể tổng hợp các kết quả của các nghiên cứu trên chúng ta có thể thấy quá trình lập dự toán bao gồm ba giai đoạn như sau: • Giai đoạn chuẩn bị lập dự toán: liên quan đến việc chuẩn bị các quy định, biểu mẫu, thông tin và nhân lực cho việc lập dự toán.