Phần mở đầu. Trình bày tóm lược vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu. Trình bày tổng quan các lý thuyết về hộ nông dân và kinh tế học sản xuất; lý thuyết về sản xuất theo hợp đồng; các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và trong nước về hiệu quả sản xuất và sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng. Phương pháp nghiên cứu.
Trình bày nguồn dữ liệu nghiên cứu, phương pháp xử lý dữ liệu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chương 4. Kết quả và phân tích. Phân tích và so sánh hiệu quả sản xuất lúa giữa nhóm hộ trong và ngoài mô hình cánh đồng lớn bằng phương pháp kiểm định t-test và phương pháp so sánh điểm xu hướng (PSM).
Kết luận và kiến nghị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Lý thuyết về hộ nông dân và kinh tế học sản xuất. Lý thuyết về hộ nông dân.
Khái niệm về hộ. Hộ đã có từ lâu đời, cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triển. Trải qua mỗi thời kỳ kinh tế khác nhau, hộ và kinh tế hộ được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau song vẫn có bản chất chung, đó là “Sự hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành viên trong gia đình cố gắng làm sao tạo ra nhiều của cải vật chất để nuôi sống và tăng thêm tích lũy cho gia đình và xã hội”. Qua nghiên cứu cho thấy có nhiều quan niệm của các nhà khoa học về hộ: - Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ “Hộ là tất cả những người cùng sống chung trong một mái nhà.
Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công”. - Theo Liên hợp quốc” Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”. Khái niệm về hộ nông dân. Về hộ nông dân, Ellis (1988, p.19) định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao".
Nhà nông học Nga - Traianốp cho rằng "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định" và ông coi "Hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp" (trang 8-12). Luận điểm trên của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách nông nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển. Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân. Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993, trang 19) cho rằng: "Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn".
Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”. Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc (2001, trang 6), trong phân tích điều tra nông thôn năm 2001 cho rằng: "Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật,.) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp". Khái niệm kinh tế hộ nông dân. Theo Ellis (1988), kinh tế hộ nông dân là kinh tế của những hộ gia đình có quyền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu sức lao động gia đình.
Sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức độ không hoàn hảo và hoạt động thị trường. Lý thuyết tân cổ điển về sản xuất của nông hộ. Hành vi ra quyết định của nông hộ trong sản xuất. Học thuyết này bắt nguồn từ người nông dân là một cá nhân quyết định các vấn đề như: sử dụng bao nhiêu lao động cho một vụ sản xuất, có nên sử dụng vật tư nông nghiệp cho sản xuất hay không, nên trồng loại cây nào v.v…Học thuyết này nhấn mạnh vào quan điểm là những người nông dân có thể thay đổi mức độ và chủng loại của các vật tư và sản phẩm nông nghiệp.
Người ta thừa nhận ba mối quan hệ giữa nguồn lực và sản phẩm nông nghiệp và ba mối quan hệ này cũng phù hợp với ba giai đoạn xây dựng học thuyết về xí nghiệp sản xuất nông nghiệp. Ba mối quan hệ đó là: (1) Mức độ thay đổi của sản lượng phù hợp với mức độ thay đổi của nguồn lực sử dụng trong sản xuất. Mối quan hệ này gọi là mối quan hệ yếu tố - sản phẩm hay là mối quan hệ giữa nguồn lực - sản lượng (input và output). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Mối quan hệ này gọi là mối quan hệ sản phẩm - sản phẩm. Học thuyết cơ bản của nền sản xuất nông dân bao gồm hàng loạt các mục đích có thể đạt được và một số hạn chế như không đề cập đến phương tiện tiêu dùng của gia đình nông dân. Tìm hiểu một mục đích duy nhất có thể đạt được tối đa hóa lợi nhuận trong thời gian ngắn hạn. Chỉ có nông dân là người duy nhất được phép ra quyết định trong nền sản xuất của nông dân.
Những giả định khác bao gồm sự cạnh tranh trên các thị trường về sản phẩm, vật tư nông nghiệp và vấn đề mua vật tư phục vụ sản xuất. Hành vi tối đa hóa sản lượng và hàm sản xuất. Hàm sản xuất xác định mối quan hệ vật chất giữa sản lượng Y và bất kỳ nguồn lực nông nghiệp (đầu tư cho sản xuất) (x1, x2,… xn). Hàm sản xuất có dạng tổng quát: Y = f(X1, X2,…, Xn) (2.1) Đặc biệt, điều liên quan là chỉ với một hoặc nhiều biến số nguồn lực (đầu vào), còn các đầu tư khác và tình trạng công nghệ là bất biến, được viết như sau: Y = f(X1, X2,…, Xm/Xn-m) (2.2) X1,…, Xm là các biến số nguồn lực (đầu vào).
Phương trình chính xác của hàm sản xuất phụ thuộc vào sự phản ứng của sản lượng đối với nguồn lực dưới dạng nghiên cứu và mức độ trừu tượng qua thực tiễn sản xuất. Tuy nhiên, tất cả các hàm sản xuất phải thỏa mãn hai điều kiện để đảm bảo ý nghĩa kinh tế: sản phẩm tới hạn phải là dương và phải giảm dần. Để thỏa mãn được các điều kiện này thì đạo hàm thứ nhất phải là dương và (dY/dX > 0) và đạo hàm thứ hai phải là âm (Dy2/dX2 < 0) có nghĩa là sự phản ứng của sản lượng đối với các mức độ gia tăng chi phí các nguồn lực phải được tăng lên, song mức tăng phải giảm dần. Hành vi tối thiểu hóa chi phí và hàm chi phí.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Mức độ hiệu quả nhất của một biến chi phí đầu tư phụ thuộc vào mối quan hệ giữa giá cả của các loại nguồn lực đó và giá sản phẩm. Mức độ kinh tế tối ưu của việc chi phí nguồn lực đạt được khi giá trị sản phẩm biên tế của nguồn lực bằng giá của nguồn lực đó. Mức tối ưu của một nguồn lực đơn có thể được biểu thị bằng một vài phương pháp khác nhau: PX = giá của từng đơn vị nguồn lực X (tức là MFC) PY = giá của từng đơn vị sản lượng Y MVP: giá trị biên tế của sản phẩm MPP: sản phẩm hiện vật tới hạn Vậy MVPx = MPPx * PY có nghĩa là giá trị sản phẩm biến tế của nguồn lực bằng sản phẩm tới hạn nhân với giá sản phẩm. Vì vậy, có 3 cách để xác định điểm tối ưu: - Điểm tối ưu kinh tế sẽ đạt được khi mức tiền lãi tăng thêm bằng chi phí tăng thêm MVPx = Px.
Nếu MVPx > Px thì nông dân sử dụng quá ít nguồn lực và nếu Nếu MVPx < Px thì lại chứng tỏ nông dân sử dụng quá nhiều nguồn lực. - Điểm tối ưu cũng có thể biểu thị bằng MVP x/Px = 1 là tỷ lệ của giá trị biên tế của sản phẩm đối với giá vật tư bằng 1. Các dạng biểu thị điều kiện tối ưu này thường được dùng trong các tạp chí liên quan tới nghiên cứu về hiệu quả kinh tế của người nông dân và vấn đề nêu lên là tỷ lệ này có thể là một con số khác 1 được không và nếu vậy thì theo hướng nào. Trả lời cho vấn đề này là nếu tỷ lệ đó lớn hơn 1 tức là MVPx/Px > 1 thì không đạt tối ưu người nông dân sử dụng quá ít nguồn lực còn nếu MVPx/Px < 1 cũng không được vì tỷ lệ này biểu thị người nông dân dùng quá nhiều nguồn lực.
- Vì MVPPx = MPx * PY nên điều kiện tối ưu cũng có thể được biểu thị bằng MPPx = Px/PY. Sản phẩm tới hạn bằng tỷ lệ nghịch đảo của giá cả (yếu tố - sản phẩm). Sự kết hợp tối ưu của các nguồn lực trong khía cạnh kinh tế được xác định bởi tỷ giá của chúng. Các mức giá của các nguồn lực khác nhau xác định khối lượng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 mỗi loại nguồn lực cần mua với tổng chi phí nhất định cho sản xuất.
Cách phối hợp hiệu quả nhất các nguồn lực là sử dụng nguồn lực ít nhất với các mức giá khác nhau cho một sản phẩm xác định. Nói cách khác, ở đây vấn đề tối ưu hóa được xem như vấn đề tối thiểu hóa chi phí chứ không phải là tối đa hóa lợi nhuận. Đối với mỗi sản lượng nhất định, sự kết hợp chi phí ít nhất của các vật tư xảy ra tại điểm tiếp tuyến giữa đường đồng mức sản lượng và đường đồng mức chi phí để tạo thành một đường tiếp tuyến. Bất kỳ một điểm khác nào nằm ở bên trái hoặc bên phải của điểm đó trên đường đồng mức sản lượng sẽ nằm trên đường đồng mức chi phí tiếp tuyến với các đường đồng mức sản lượng này.
Tại bất kỳ điểm nào của đường tiếp tuyến, độ nghiêng của hai đường cong là bằng nhau. Tỷ lệ thay thế tới hạn bằng tỷ lệ nghịch của giá các nguồn lực. Như trong trường hợp điểm tối ưu của hàm sản xuất, một số công thức toán học đơn giản đã giúp chúng ta tìm hiểu hàm ý của kết luận này.