Tổng quan nghiên cứu

Sản xuất nông nghiệp đóng vai trò xương sống trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam, đóng góp khoảng 22% vào GDP quốc gia và tạo sinh kế cho gần 70% dân số sinh sống tại khu vực nông thôn. Mặc dù đạt được những bước tiến vượt bậc về sản lượng xuất khẩu các mặt hàng chiến lược như cà phê và lúa gạo, ngành nông nghiệp đang phải đối mặt với ngoại tác tiêu cực nghiêm trọng về môi trường từ chất thải rắn (CTR). Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2011, hoạt động sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam phát sinh hàng năm khoảng 11.000 tấn bao bì thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) và 240.000 tấn bao bì phân bón hóa học. Phần lớn các loại rác thải nguy hại này không được thu gom hay xử lý đúng quy chuẩn kỹ thuật mà bị thải trực tiếp ra ruộng đồng, ao hồ và kênh rạch.

Huyện Đắk Song thuộc tỉnh Đắk Nông là địa bàn thuần nông điển hình tại khu vực Tây Nguyên với 92,97% hộ dân có nguồn thu nhập chính từ nông nghiệp, trong đó ngành nông nghiệp chiếm tới 79% tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) của huyện. Tổng diện tích đất trồng trọt toàn huyện đạt 25.818 ha, chiếm 12,57% diện tích canh tác toàn tỉnh Đắk Nông. Với đặc thù chuyên canh cây công nghiệp lâu năm đạt 20.079 ha, trong đó riêng diện tích cà phê chiếm tới 15.600 ha – loại cây trồng có định mức sử dụng phân bón vô cơ và thuốc BVTV rất cao – áp lực chất thải rắn nguy hại phát tán ra tự nhiên là vô cùng lớn.

Nghiên cứu được thực hiện tại 2 xã đại diện là Trường Xuân và Đắk Ndrung thuộc huyện Đắk Song nhằm phân tích thực trạng quản lý CTR nông nghiệp, đánh giá nhận thức của nông dân và chính quyền địa phương, giải mã nguyên nhân của khoảng cách giữa nhận thức và hành động thực tế, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp chính sách công có tính khả thi cao nhằm giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước ngầm và đất canh tác.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu tích hợp hai nền tảng lý thuyết chủ đạo trong phân tích chính sách và kinh tế học hành vi:

Lý thuyết hành vi quy hoạch (Theory of Planned Behavior - TPB) do Icek Ajzen phát triển năm 1991 (kế thừa từ Lý thuyết Hành động Hợp lý của Fishbein và Ajzen, 1975) được sử dụng làm khung phân tích hành vi xả thải của người dân. Mô hình TPB chỉ ra rằng hành vi thực tế của cá nhân chịu sự chi phối trực tiếp từ ý định hành vi, vốn được kiến tạo bởi 3 nhân tố cốt lõi:

  • Thái độ hướng tới hành vi: Mức độ đánh giá tích cực hay tiêu cực của nông dân về việc bỏ rác tại ruộng (dựa trên sự thuận tiện, tiết kiệm thời gian hoặc nhận thức rủi ro ô nhiễm).
  • Tiêu chuẩn chủ quan: Áp lực xã hội từ gia đình, cộng đồng thôn buôn và các hộ canh tác xung quanh đối với việc giữ gìn vệ sinh chung.
  • Nhận thức kiểm soát hành vi: Cảm nhận của người dân về mức độ dễ dàng hay khó khăn khi xử lý CTR đúng quy định (phụ thuộc vào khoảng cách tới bể chứa rác, sự sẵn có của hạ tầng thu gom và chi phí xử lý).

Lý thuyết ngoại tác tiêu cực (Negative Externality) trong kinh tế học môi trường phân tích sự chênh lệch giữa chi phí cá nhân và chi phí xã hội. Việc nông dân tự do vứt bỏ vỏ chai thuốc BVTV sau sử dụng tạo ra ngoại tác tiêu cực làm suy thoái tài nguyên nước và đe dọa sức khỏe cộng đồng. Khung chính sách can thiệp của nhà nước đòi hỏi việc nội hóa ngoại tác thông qua các công cụ kinh tế như phí bảo vệ môi trường, hệ thống ký quỹ - hoàn trả (Deposit-Refund System) và chế tài pháp lý căn cứ theo Nghị định 59/2007/NĐ-CP và Quyết định 2149/QĐ-TTg về chiến lược quốc gia quản lý tổng hợp CTR.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng quy trình tiếp cận kết hợp giữa dữ liệu sơ cấp và thứ cấp:

  • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ Niên giám thống kê tỉnh Đắk Nông 2011, Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội huyện Đắk Song 2011, Báo cáo môi trường tỉnh Đắk Nông 2011 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.
  • Dữ liệu sơ cấp: Khảo sát chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên (Stratified Random Sampling) trên quy mô 120 hộ nông dân phân bổ đều tại 2 địa bàn: 60 hộ tại xã Trường Xuân (nằm dọc Quốc lộ 14, đa phần là người Kinh) và 60 hộ tại xã Đắk Ndrung (vùng sâu, tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số). Tại mỗi xã, tác giả chọn 3 thôn/buôn đại diện, phỏng vấn khoảng 10% tổng số hộ trong thôn. Mẫu khảo sát gồm 93 hộ người Kinh (chiếm 77,50%) và 27 hộ đồng bào dân tộc thiểu số khác (chiếm 22,50%). Thời gian thực hiện điều tra điền dã từ ngày 11/01/2013 đến ngày 20/01/2013.
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để làm sạch dữ liệu, tiến hành phân tổ thống kê theo địa bàn xã và theo thành phần dân tộc, kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phân tích tần số, lập bảng chéo và ma trận tương quan nhận thức - hành vi. Phương pháp này được lựa chọn vì tính minh bạch, phản ánh định lượng rõ nét các nhóm biến số nhân khẩu học tác động đến các thành tố trong mô hình TPB.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực nghiệm ghi nhận những phát hiện định lượng quan trọng về nhận thức và hành vi quản lý CTR của người dân:

Thứ nhất, mức độ nhận thức về tính chất nguy hại của rác thải nông nghiệp ở mức tương đối cao. Có 41,67% hộ dân đánh giá hiện trạng CTR tại địa phương đang ở mức rất nhiều và 45,00% nhận định lượng rác tuy hiện tại chưa quá mức nhưng sẽ bùng nổ trong tương lai gần (tổng tỷ lệ nhận thức nguy cơ là 86,67%). Đáng chú ý, 56,67% hộ cho rằng CTR ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất và đời sống thường nhật; 86,60% số người được hỏi chỉ đích danh bao bì thuốc BVTV là nguồn phát thải độc hại nhất.

Thứ hai, tồn tại sự tương phản sâu sắc giữa hành vi xử lý CTR vô cơ và CTR hữu cơ. Đối với chất thải vô cơ nguy hại từ thuốc BVTV (với 89,20% dạng bao bì nhựa, phần còn lại là thủy tinh và giấy), có tới 67,20% hộ dân xả thải trực tiếp ra môi trường tự nhiên (51,20% vứt ngay tại bờ ruộng/rẫy và 16,00% vứt xuống kênh mương, sông suối). Tỷ lệ tự thu gom để chôn/đốt chỉ đạt 19,20%, thu gom bán phế liệu đạt 11,20% và chỉ có 1,60% mang bỏ vào điểm tập kết. Với bao bì phân bón vô cơ và thức ăn gia súc, dù 98,33% hộ có tái sử dụng ban đầu để đựng nông sản, nhưng khi bao bì rách hỏng không thể tái dùng thì có tới 59,17% hộ lại vứt bỏ trực tiếp ra môi trường.

Thứ ba, CTR hữu cơ được tuần hoàn và tái sử dụng rất triệt để. Có 88,03% hộ dân tận dụng vỏ và bã cà phê sau thu hoạch để ủ làm phân bón hữu cơ sinh học. Đối với phế phẩm thân, cành cây, có 80,64% hộ để lại tại ruộng cho tự phân hủy mục nát hoặc gom đốt lấy tro bón đất. Trong hoạt động chăn nuôi, 75,00% hộ sử dụng phân gia súc làm phân bón cho cây trồng, chỉ 25,00% thải ra tự nhiên do tập quán chăn nuôi thả rông quy mô nhỏ.

Thứ tư, thiếu hụt hoàn toàn hạ tầng công cộng và đào tạo kỹ thuật. Toàn huyện Đắk Song chỉ có 01 xe tải 2,5 tấn chuyên chở rác sinh hoạt tại thị trấn Đức An về bãi rác xã Nâm N’Jang (quy mô 3 ha), hoàn toàn không có mạng lưới thu gom rác nông nghiệp. 100% hộ dân khẳng định địa phương chưa từng xây dựng bất kỳ bể chứa rác nội đồng nào. Có 61,67% hộ tự hình thành thói quen xử lý rác, 17,50% học hỏi truyền miệng từ người thân và 0% hộ từng được tham gia các khóa tập huấn về quản lý CTR nông nghiệp.

Thảo luận kết quả

Nghịch lý giữa nhận thức cao về độc hại (86,60%) nhưng tỷ lệ xả thẳng ra tự nhiên vẫn áp đảo (67,20%) được giải thích rõ nét qua mô hình Lý thuyết hành vi quy hoạch (TPB):

  • Về nguyên nhân chủ quan: 36,73% hộ xả rác ngoài ruộng vì tính thuận tiện tức thời, 32,65% do thói quen lâu đời không bị nhắc nhở, 22,45% do thiếu ý thức trách nhiệm và 8,16% làm theo hành vi của những người xung quanh.
  • Dưới lăng kính TPB, thái độ hướng tới hành vi thuận tiện cá nhân đã lấn át nhận thức rủi ro sức khỏe cộng đồng. Chuẩn mực chủ quan bị suy yếu do hiệu ứng đám đông (thấy người khác vứt bừa bãi không bị lên án nên bản thân cũng làm theo). Đồng thời, nhận thức kiểm soát hành vi bị suy giảm hoàn toàn do không có chỗ chứa rác hợp lệ và thiếu vắng cơ chế kiểm tra, xử phạt từ chính quyền cấp xã.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh sự phân hóa theo cấu trúc xã hội: Tỷ lệ vứt bao bì thuốc BVTV trực tiếp ra ruộng rẫy và kênh suối tại xã Trường Xuân (nơi tập trung đông người Kinh, chuyên canh cà phê cường độ cao) lên tới 81,97%, cao hơn đáng kể so với mức 53,13% tại xã Đắk Ndrung. Ma trận nhận thức và hành vi này có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ cột phân nhóm thể hiện tỷ lệ xả thải vô cơ đối lập với tỷ lệ tái chế hữu cơ, cùng bảng phân tích tương quan giữa khoảng cách địa lý đến trục đường giao thông với mức độ sẵn sàng mang rác về điểm tập kết. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu kinh tế môi trường của Ngô Minh Thúy (2007) và Đàm Nguyễn Hoài An (2011), tái khẳng định rằng nếu không có sự can thiệp thể chế để khắc phục ngoại tác tiêu cực, các hộ gia đình sẽ luôn tối ưu hóa lợi ích cá nhân bằng cách đẩy chi phí môi trường cho toàn xã hội gánh chịu.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát thực địa và khung lý thuyết TPB, các nhóm giải pháp chính sách công được kiến nghị thực thi đồng bộ:

  1. Xây dựng mạng lưới bể chứa và điểm tập kết CTR nông nghiệp nội đồng:
  • Hành động: Thiết kế và lắp đặt các bể chứa bằng bê tông/xi măng có nắp đậy tại các trục đường giao thông chính nội đồng và các khu vực có mật độ canh tác cà phê tập trung.
  • Mục tiêu: Đạt 100% thôn buôn có điểm thu gom rác chuyên dụng, đáp ứng trực tiếp nhu cầu của 49,17% hộ dân yêu cầu địa điểm tiện đường đi lại và 35,83% hộ yêu cầu tiện đường kết hợp gần rẫy.
  • Lộ trình: Triển khai thí điểm tại xã Trường Xuân và Đắk Ndrung trong vòng 6 tháng, sau đó nhân rộng toàn huyện Đắk Song trong 18 tháng tiếp theo.
  • Chủ thể thực hiện: UBND huyện Đắk Song bố trí ngân sách, UBND các xã chủ trì giám sát và phân bổ vị trí cùng Ban tự quản thôn buôn.
  1. Áp dụng cơ chế kinh tế phí môi trường và hệ thống ký quỹ - hoàn trả (Deposit-Refund System):
  • Hành động: Tích hợp một khoản phí bảo vệ môi trường hoàn lại vào giá bán của các loại bao bì, chai lọ thuốc BVTV và phân bón tại các đại lý vật tư nông nghiệp. Người dân khi sử dụng xong mang vỏ bao bì nộp lại các điểm thu gom sẽ được hoàn lại khoản tiền ký quỹ này.
  • Mục tiêu: Kích hoạt động lực kinh tế để thu hồi trên 85% lượng bao bì vô cơ phát sinh trên đồng ruộng, hiện thực hóa cam kết của 90,00% nông dân được khảo sát sẵn sàng mang bao bì đến điểm quy định nếu có hỗ trợ tài chính.
  • Lộ trình: Xây dựng đề án trong 12 tháng, triển khai cơ chế ký quỹ thử nghiệm trong 24 tháng.
  • Chủ thể thực hiện: Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp Chi cục Trồng trọt & BVTV và mạng lưới đại lý phân phối vật tư nông nghiệp.
  1. Đổi mới công tác tuyên truyền và chuẩn hóa chương trình đào tạo nông thôn mới:
  • Hành động: Bắt buộc lồng ghép chuyên đề quản lý an toàn rác thải hóa chất nông nghiệp vào tất cả các lớp tập huấn kỹ thuật canh tác hàng năm của Hội Nông dân và Trạm Khuyến nông; gắn tiêu chí thu gom rác đồng ruộng vào hương ước thôn buôn và phong trào thi đua Gia đình văn hóa.
  • Mục tiêu: Tiếp cận 100% hộ sản xuất, chuyển đổi thái độ của 47,50% nhóm hộ sẵn sàng tham gia không cần hỗ trợ và 40,83% nhóm hộ cần hướng dẫn cụ thể.
  • Lộ trình: Thực hiện định kỳ hàng quý từ năm 2014.
  • Chủ thể thực hiện: Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Trạm Khuyến nông huyện và các Trưởng thôn/buôn.
  1. Xã hội hóa dịch vụ thu gom và liên kết xử lý chất thải nguy hại:
  • Hành động: Ký hợp đồng liên kết định kỳ giữa chính quyền địa phương với các doanh nghiệp môi trường đô thị hoặc công ty có chức năng tiêu hủy chất thải nguy hại chuyên nghiệp để vận chuyển rác từ các bể chứa nội đồng về bãi xử lý tập trung.
  • Mục tiêu: Ngăn chặn triệt để 100% tình trạng đốt rác nhựa hở hoặc tự chôn lấp gây phát tán khí độc Dioxin và ô nhiễm mạch nước ngầm.
  • Lộ trình: Hoàn tất ký kết hợp đồng thu gom định kỳ 3 tháng/lần trong năm đầu tiên.
  • Chủ thể thực hiện: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đắk Song và UBND các xã.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và thực tiễn phong phú cho các nhóm độc giả chuyên biệt:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên - môi trường và nông nghiệp (Sở TN&MT, Phòng TN&MT cấp huyện, Chi cục BVTV): Cung cấp bộ số liệu thực chứng chi tiết về khối lượng phát thải, thành phần rác thải nông nghiệp và cơ sở khoa học để thiết kế các chính sách can thiệp kinh tế như thuế, phí môi trường và cơ chế ký quỹ hoàn trả.

  2. Chính quyền địa phương cấp cơ sở và các tổ chức đoàn thể (UBND cấp xã, Hội Nông dân, Hợp tác xã nông nghiệp): Tiếp cận quy trình khảo sát thực địa, cẩm nang lựa chọn vị trí đặt bể chứa rác nội đồng hợp lòng dân và phương pháp vận động cộng đồng xây dựng quy chế tự quản bảo vệ môi trường nông thôn mới.

  3. Các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Chính sách công, Kinh tế tài nguyên môi trường, Quản lý đất đai: Cung cấp tài liệu tham khảo mẫu mực về cách thức vận dụng Lý thuyết hành vi quy hoạch (TPB) của Ajzen kết hợp phân tích kinh tế vi mô để giải quyết các vấn đề ngoại tác tiêu cực tại khu vực miền núi.

  4. Các tổ chức phi chính phủ (NGO), viện nghiên cứu phát triển bền vững và doanh nghiệp cung ứng vật tư nông nghiệp: Ứng dụng mô hình đánh giá hành vi nông hộ để xây dựng các dự án nông nghiệp sinh thái tuần hoàn, đồng thời triển khai chương trình Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) trong ngành hóa chất nông nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao nông dân nhận thức rõ bao bì thuốc bảo vệ thực vật độc hại nhưng vẫn vứt bỏ trực tiếp tại đồng ruộng? Nghiên cứu chỉ ra rằng 86,60% nông dân nhận thức được tính nguy hại của thuốc BVTV, nhưng có tới 67,20% vẫn vứt bỏ ra tự nhiên. Nghịch lý này bắt nguồn từ sự thiếu vắng hoàn toàn hạ tầng bể chứa (100% xã chưa có), kết hợp với ưu tiên tính thuận tiện (36,73%) và thói quen canh tác lâu đời (32,65%).

Chất thải rắn hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp tại Đắk Song được người dân xử lý ra sao? Khác với rác thải vô cơ, chất thải hữu cơ được tận dụng tuần hoàn rất hiệu quả. Cụ thể có 88,03% hộ dân chủ động ủ vỏ, bã cà phê thành phân bón hữu cơ, hơn 80% hộ tận dụng thân cành cây khô làm tro bón đất hoặc để tự phân hủy và 75,00% hộ chăn nuôi tái chế phân gia súc làm chất dinh dưỡng cho cây trồng.

Khung Lý thuyết hành vi quy hoạch (TPB) đã giải mã khoảng cách nhận thức - hành động như thế nào? Theo mô hình TPB, ý định hành vi của nông dân bị bóp méo khi thái độ đề cao sự thuận tiện cá nhân lấn át rủi ro môi trường; tiêu chuẩn chủ quan lỏng lẻo do nhiều người cùng xả rác bừa bãi; nhận thức kiểm soát hành vi bị triệt tiêu do không có bể chứa và không có chế tài xử phạt từ chính quyền.

Giải pháp áp dụng cơ chế phí môi trường đối với vật tư nông nghiệp có tính khả thi trong thực tế không? Giải pháp này có tính khả thi đặc biệt cao vì kết quả khảo sát thực chứng ghi nhận có tới 90,00% hộ nông dân khẳng định sẵn sàng mang bao bì, vỏ chai thuốc BVTV đến nộp tại các điểm thu gom quy định nếu được hỗ trợ tài chính thông qua cơ chế hoàn trả tiền ký quỹ.

Tiêu chí quan trọng nhất khi lựa chọn vị trí đặt các bể chứa rác thải nông nghiệp nội đồng là gì? Khảo sát thực tế chứng minh có 49,17% hộ dân lựa chọn tiêu chí thùng rác phải đặt tại vị trí thuận tiện đường giao thông đi lại và 35,83% yêu cầu vừa tiện đường vừa không quá xa nương rẫy. Do địa hình Đắk Song đồi dốc phức tạp, việc đặt bể chứa dọc các trục đường liên thôn nội đồng là khả thi nhất.

Kết luận

  • Phản ánh trung thực thực trạng đáng báo động khi có tới 67,20% lượng bao bì thuốc BVTV độc hại bị xả trực tiếp ra ruộng rẫy và nguồn nước tại huyện Đắk Song.
  • Chứng minh sự đối lập sâu sắc giữa tỷ lệ tái chế 88,03% chất thải hữu cơ và mức độ ô nhiễm nghiêm trọng từ các loại chất thải rắn vô cơ không được thu gom.
  • Vận dụng thành công mô hình Lý thuyết hành vi quy hoạch (TPB) để làm rõ căn nguyên khiến thói quen và tính tiện lợi lấn át nhận thức bảo vệ môi trường của nông hộ.
  • Khẳng định tính khả thi vượt trội của chính sách can thiệp kinh tế khi 90,00% nông dân đồng thuận tham gia thu gom vỏ bao bì hóa chất nếu có cơ chế hỗ trợ hoàn phí.
  • Kiến nghị gói giải pháp đồng bộ 4 trụ cột: Hạ tầng bể chứa nội đồng, cơ chế phí ký quỹ - hoàn trả, đổi mới đào tạo nông thôn mới và liên kết xử lý chuyên nghiệp.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện và khung giải pháp chính sách công vừa vặn với đặc thù vùng chuyên canh cây công nghiệp Tây Nguyên. Các bước tiếp theo cần tập trung vào việc hoàn thiện quy hoạch mạng lưới bể chứa điểm tại 2 xã Trường Xuân và Đắk Ndrung giai đoạn 2014 - 2015, trước khi chuẩn hóa thành chính sách phí môi trường trên toàn tỉnh giai đoạn 2016 - 2020.

Hãy tham khảo và ứng dụng ngay các phát hiện khoa học từ luận văn để xây dựng mô hình quản lý chất thải nông nghiệp bền vững cho địa phương của bạn!