Chương 1: Giới thiệu Giới thiệu một cách tổng quát về đề tài, cụ thể: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. Các vấn đề được trình bày một các ngắn gọn tạo góc nhìn khái quát về bài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan Chương 2 sẽ khảo lược và thảo luận về các nghiên cứu trước đây, từ đó làm nền tảng và đưa ra động cơ cho nghiên cứu này. Trong phần này, lý thuyết và các phát hiện trong các nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề mối quan hệ và ảnh hưởng của quản trị công ty với bất cân xứng thông tin sẽ được trình bày cho thấy một cách tổng quát về các vấn đề đã được nghiên cứu và các tranh luận hiện tại.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu Trong chương này sẽ đưa ra giả thiết nghiên cứu nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu của bài. Tiếp đó, mô tả biến và mô hình để giải quyết vấn đề nghiên cứu. Cuối cùng, trong phần này trình bày về dữ liệu, quy mô mẫu cũng nhưng nguồn thu thập dữ liệu cho bài nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 4 sẽ trình bày các kiểm định và thực hiện hồi quy mô hình với phương pháp phù hợp.
Từ đó đưa ra các đánh giá tác động của quản trị công ty và bất cân xứng thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Chương 5: Kết luận Trong chương này sẽ tổng kết các vấn đề nghiên cứu. Dựa trên kết quả nghiên cứu từ Chương 4 để đưa ra các kết luận và nhận định riêng tại thị trường Việt Nam. Ngoài ra, trong phần này cũng trình bày một số hạn chế của đề tài cũng như đề xuất các hướng mở rộng nghiên cứu trong tương lai.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Chương 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Trong chương này, tác giả sẽ khảo lược và thảo luận các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ và ảnh hưởng của quản trị công ty với bất cân xứng thông tin, qua đó cho thấy một cái nhìn tổng quan về các vấn đề đã được nghiên cứu và các các tranh luận khác. Lý thuyết đại diện Lý thuyết đại diện có nguồn gốc từ lý thuyết kinh tế được phát triển bởi Alchian và Demsetz vào năm 1972, sau đó được Jensen và Meckling phát triển thêm vào năm 1976. Ross (1973) định nghĩa “Các mối quan hệ đại diện là một trong những phương thức hệ thống hóa phổ biến và lâu đời nhất của sự tương tác trong xã hội. Một quan hệ đại diện phát sinh giữa hai hay nhiều bên liên quan, trong đó một bên được chỉ định làm đại diện cho các hoạt động, hành vi hay thay mặt trong phạm vi cụ thể để quyết định vấn đề”.
Jensen và Meckling (1976) định nghĩa một mối quan hệ đại diện là “một hợp đồng theo đó một hay nhiều người tham gia cùng một người khác (đại diện) để thực hiện một số dịch vụ thay mặt cho họ, trong đó bao gồm một số quyết định ủy quyền làm căn cứ thẩm quyền cho đối tượng đại diện”. Do đó, các ủy thác cho việc ra quyết định từ bên ủy nhiệm đến bên đại diện là một vấn đề. Vì lợi ích của bên ủy nhiệm và bên đại diện có thể khác nhau, bên ủy nhiệm không thể giám sát và kiểm soát hoàn toàn bên đại diện để đạt được mục tiêu. Một vấn đề khác trong lý thuyết đại diện là có thể có trường hợp bên đại diện dựa trên những hành vi cơ hội trong các hoạt động đại diện để làm trái lợi ích của bên ủy nhiệm.
“Vấn đề đại diện xuất hiện bởi không thể có khả năng hoàn hảo trong việc thống nhất lợi ích của cả biên ủy nhiệm và bên đại diện. Xuất phát từ vấn đề này, câu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 hỏi đặt ra là làm thế nào để khuyến khích bên đại diện thực hiện các hành động vì lợi ích tốt nhất cho bên ủy nhiệm” (McColgan, 2001). Ngoài ra, Hauswald và Marquez (2006) lập luận rằng “vấn đề đại diện giữa hội đồng quản trị và cổ đông có thể tạo ra mức độ hiệu quả nhất định trongviệc giám sát lẫn nhau và công bố thông tin”. Theo đó, chủ sở hữu kỳ vọng rằng bên đại diện sẽ đưa ra các quyết định vì lợi ích của họ, nhưng người đại diện không nhất thiết phải đưa ra quyết định vì lợi ích tối đa của các cổ đông (Padilla, 2002).
Xung đột lợi ích giữa chủ sở hữu và người đại diện xuất phát từ việc tách quyền sở hữu và quyền kiểm soát (Davis, Schoorman và Donaldson, 1997). Mặt khác, xung đột lợi ích cũng có thể tồn tại ngay trong mỗi bộ phận chủ sở hữu, chẳng hạn giữa cổ đông đa số và thiểu số, kiểm soát và không kiểm soát, cá nhân và tổ chức…và các thành viên hội đồng quản trị (độc lập và phụ thuộc, điều hành và không điều hành) (IFC, 2010). Như vậy, một trong những vấn đề mà lý thuyết đại diện đặt ra đó là làm thế nào để thiết lập cấu trúc hội đồng quản trị nhằm đảm bảo lợi ích của các cổ đông. Tóm lại, lý thuyết đại diện nêu lên các vấn đề xuất phát từ: thứ nhất, sự khác nhau về lợi ích kinh tế của bên đại diện (nhà quản lý công ty) và bên ủy nhiệm (cổ đông) trong đó quan tâm đến nghĩa vụ thực hiện các hoạt động của bên đại diện và thứ hai, tồn tại vấn đề bất cân xứng thông tin giữa bên đại diện (nhà quản lý công ty) và bên ủy nhiệm (cổ đông)(Al-Baluchi, 2006).
Lý thuyết các bên hữu quan (Stakeholder) Thông thường, trong một doanh nghiệp các bên liên quan có ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi các vấn đề từ quản trị công ty có thể phân thành hai nhóm chính: bên trong và bên ngoài. Các nhóm liên quan bên ngoài công ty bao gồm cổ đông, chủ nợ, chủ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nợ thương mại, nhà cung cấp, khách hàng và cơ quan quản lý. Các nhân tố bên trong bao gồm: hội đồng quản trị, ban giám đốc và nhân viên. Tất cả các bên sẽ tham gia vào quá trình giám sát hoạt động doanh nghiệp một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, ở những mức độ khác nhau tùy thuộc vào mối quan tâm và mục tiêu khác nhau (Đào Thị Thanh Bình & Hoàng Thị Hương Giang, 2012).
Tuy nhiên, ba nhóm trực tiếp tham gia và đóng vài trò trung tâm trong việc quản trị công ty để đảm bảo các mục tiêu kinh doanh và tối đa hóa lợi ích nhà đầu tư là: Cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc điều hành hay ban giám đốc (Barger, 2004). Khái niệm về các bên hữu quan (Stakeholder) ban đầu được định nghĩa là “những nhóm người mà nếu họ không tham gia hoạt động thì tổ chức sẽ không thể tồn tại” (Sternberg, 1997). Theo định nghĩa này, các bên hữu quan bao gồm tất cả những người ảnh hưởng đến việc tồn tại của tổ chức. Freeman (1984) xác định các bên hữu quan một cách bao quát hơn theo đó “bất kỳ cá nhân hay nhóm người nào có thể ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi khả năng đạt mục tiêu của công ty”.
Như vậy, theo định nghĩa của Freeman, ý nghĩa các bên hữu quan đã chuyển từ những người ảnh hưởng đến tổ chức sang cả những người bị ảnh hưởng bởi tổ chức đó. Sự thay đổi khái niệm này đã làm gia tăng đang kể số lượng các nhóm liên quan. Sternberg (1997) đã cập nhật định nghĩa này của Freemantheo đó “các bên hữu quan lànhững người có thể ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi một tổ chức”. Jensen (2001) lập luận rằng “Lý thuyết các bên hữu quan cho rằng các nhà quản lý cần đưa ra quyết định đảm bảo lợi ích của các bên hữu quan trong công ty.
Các bên hữu quan bao gồm tất cả cá nhân hoặc các nhóm người có thể ảnh hưởng đáng kể, hoặc bị ảnh hưởng bởi doanh nghiệp. Nó không chỉ bao gồm các nhà cung cấp tài chính cho công ty mà còn cả nhân viên, khách hàng, tác động của công ty tới môi trường và cộng đồng nói chung”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Theo nguyên tắc OECD IV, các bên có quyền lợi liên quan là các bên có một phần lợi ích trong công ty, có thể có lợi hay bị thiệt hại tùy theo hoạt động của công ty. Sự gắn kết với các bên có quyền lợi liên quan có thể giúp các công ty hiểu rõ hơn về lợi ích và mối quan tâm của các nhóm quyền lợi có liên quan, từ đó công ty và hội đồng quản trị có thể đưa ra các quyết định đầy đủ thông tin về việc cân bằng lợi ích của tất cả các nhóm mà họ có trách nhiệm.
Nguyên tắc OECD IV cho rằng công tác quản trị công ty cần nhận biết được quyền của các bên có quyền lợi liên quan trong hoạt động kinh doanh của mình (IFC, 2011). Như vậy, theo lý thuyết các bên hữu quan cơ cấu quản trị công ty phải có đại diện của các bên liên quan, với mục tiêu đảm bảo rằng công ty vận hành và hoạt động vì quyền lợi của các bên hữu quan. Lý thuyết về quản trị công ty Quản trị công ty (Corporate Governance) ngày càng thu hút được sự quan tâm đông đảo và là một chủ đề nóng đối với chính phủ, các công ty đại chúng cũng nhưgiới học giả trong và ngoài nước vì tầm quan trọng rõ rệt của chúng đối với doanh nghiệp. Melis (1998) cho rằng hầu hết các nghiên cứu về quản trị công ty xuất phát từ quan điểm Anglo-American.
Tuy nhiên, bản thân khái niệm quản trị công ty lại được định nghĩa mờ nhạt, dễ nhầm lẫn và không có một định nghĩa nhất quán về quản trị công ty có thể áp dụng cho mọi trường hợp. Các định nghĩa khác nhau về quản trị công ty hiện hữu phần nhiều phụ thuộc vào các tác giả, thể chế cũng như hệ thống pháp lý của mỗi quốc gia. Định nghĩa trực tiếp và hữu ích về quản trị doanh nghiệp được sử dụng trong các báo cáocủa Ủy ban về các khía cạnh tài chính của quản trị doanh nghiệp ở Anh. Trong đó, quản trị công ty là một hệ thống mà theo đó công ty được điều hành và kiểm soát (Clarke, 2007).
Shleifer và Vishny (1997) định nghĩa quản trị công ty là “cách thức LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.