Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống ngân sách nhà nước đóng vai trò huyết mạch trong việc duy trì bộ máy chính quyền và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Trong cấu trúc bốn cấp ngân sách tại Việt Nam, ngân sách cấp xã, phường, thị trấn là cấp cơ sở trực tiếp gắn liền với đời sống nhân dân. Tại tỉnh Quảng Bình, địa bàn có 143 xã, phường, thị trấn với tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số miền núi chiếm 8,9% và tỷ lệ hộ nghèo ghi nhận ở mức 8,67% vào cuối năm 2014, công tác quản lý tài chính công đối mặt với nhiều đặc thù phức tạp. Báo cáo quyết toán năm 2013 cho thấy tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh đạt 9.835 tỷ đồng, tổng chi đạt 8.889 tỷ đồng, trong đó kết dư ngân sách cấp xã đạt 40,946 tỷ đồng trên tổng kết dư toàn tỉnh là 198,429 tỷ đồng.

Mặc dù tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh năm 2014 đạt 7,5% (tăng so với mức 7,1% của năm 2013), hệ thống báo cáo kế toán ngân sách xã hiện hành vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Chế độ kế toán ban hành theo Quyết định số 94/2005/QĐ-BTC và Thông tư số 146/2011/BTC đang tạo áp lực lớn cho đội ngũ kế toán cơ sở khi phải hoàn thiện 3 mẫu báo cáo tháng và 9 mẫu báo cáo năm. Mục tiêu nghiên cứu tập trung đánh giá thực trạng lập, trình bày hệ thống báo cáo tài chính ngân sách xã tại Quảng Bình trong giai đoạn tháng 8 và tháng 9 năm 2015. Thông qua việc so sánh với Chuẩn mực Kế toán Công Quốc tế (IPSAS), luận văn xác lập cơ sở khoa học nhằm tái cấu trúc hệ thống biểu mẫu, tăng cường tính minh bạch của thông tin kế toán và nâng cao hiệu quả giám sát nguồn lực công tại cơ sở.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết kế toán khu vực công hiện đại. Theo quan điểm của Ani Uchena (1994), khu vực công là bộ phận kinh tế do Chính phủ thành lập và điều hành nhằm cung ứng dịch vụ công ích phi lợi nhuận. Odike (2006) và Ifezue (2006) khẳng định kế toán công không lấy lợi nhuận làm thước đo mà là hệ thống thông tin phục vụ kiểm soát, lập kế hoạch và nâng cao trách nhiệm giải trình trước xã hội.

Trục lý thuyết cốt lõi thứ hai là hệ thống Chuẩn mực Kế toán Công Quốc tế do Ủy ban Chuẩn mực Kế toán Công Quốc tế (IPSASB) thuộc Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC) ban hành. Tính đến ngày 1 tháng 6 năm 2015, hệ thống IPSAS bao gồm 32 chuẩn mực theo cơ sở dồn tích và 1 chuẩn mực theo cơ sở tiền mặt. Trong đó, Chuẩn mực IPSAS 1 (Trình bày Báo cáo Tài chính) đặt ra các nguyên tắc bắt buộc về tính hoạt động liên tục, tính nhất quán, không bù trừ và tính có thể so sánh. IPSAS 1 quy định cấu trúc báo cáo gồm 4 thành phần cơ bản: Báo cáo tình hình tài chính, Báo cáo kết quả hoạt động, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Báo cáo thay đổi tài sản thuần/nguồn kinh phí, kèm theo Thuyết minh báo cáo tài chính và Báo cáo so sánh dự toán với thực tế.

Khung phân tích của đề tài đặt trọng tâm vào 3 khái niệm chính: Cơ sở kế toán dồn tích (ghi nhận nghiệp vụ ngay khi phát sinh), Cơ sở kế toán tiền mặt có điều chỉnh (đang áp dụng tại các xã ở Việt Nam khi kết hợp theo dõi tạm ứng, nợ phải thu và nợ phải trả), và Hệ thống mục lục ngân sách nhà nước (MLNSNN) điều chỉnh việc phân loại thu chi công.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng cách tiếp cận định tính kết hợp thống kê mô tả nhằm xử lý nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp:

  • Quy mô và phương pháp chọn mẫu: Tác giả thực hiện khảo sát toàn diện tại 7 huyện và 1 thành phố thuộc tỉnh Quảng Bình. Tổng số 45 phiếu câu hỏi đã được gửi trực tiếp và qua thư điện tử đến kế toán ngân sách cấp xã và chuyên viên quản lý ngân sách huyện. Kết quả thu về 43 phiếu hợp lệ (tương ứng tỷ lệ phản hồi hợp lệ đạt 95,56%), loại bỏ 2 phiếu do thiếu thông tin. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho cả vùng đồng bằng, đô thị ven biển và vùng sâu vùng xa.
  • Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Phương pháp thống kê mô tả dựa trên thang đo Likert 5 mức độ và kỹ thuật tổng hợp, so sánh đối chiếu được lựa chọn vì tính phù hợp cao trong việc lượng hóa các đánh giá chủ quan của kế toán viên về độ phức tạp của 9 mẫu báo cáo năm (từ mẫu B01-X đến B06-X). Đồng thời, phương pháp này cho phép nhận diện rõ nét sự sai lệch giữa quy định hạch toán của Việt Nam và thông lệ quốc tế IPSAS.
  • Thời gian nghiên cứu: Dữ liệu khảo sát sơ cấp được thu thập tập trung trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 2015 đến tháng 9 năm 2015, kết hợp dữ liệu thống kê ngân sách giai đoạn 2012 - 2014 của tỉnh Quảng Bình.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực tế tại 143 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Quảng Bình chỉ ra các kết quả trọng yếu sau:

  • Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin: 100% đơn vị cấp xã trên toàn tỉnh đã triển khai đồng bộ phần mềm kế toán Misa từ năm 2012. Tuy nhiên, 100% các đơn vị vẫn vận hành dựa trên cơ sở kế toán tiền mặt và tiền mặt có điều chỉnh, khiến giá trị hao mòn tài sản cố định chưa được tính toán đầy đủ vào chi phí hoạt động trong kỳ.
  • Áp lực về số lượng biểu mẫu báo cáo: Hệ thống báo cáo quyết toán năm gồm 9 mẫu biểu đang gây ra tình trạng trùng lặp thông tin nghiêm trọng. Khoảng 72% kế toán viên khảo sát cho biết gặp khó khăn khi đối chiếu số liệu giữa Bảng cân đối tài khoản (mẫu B01-X) với Báo cáo quyết toán thu chi theo MLNSNN (mẫu B03a-X và B03b-X).
  • Tiến độ nộp báo cáo định kỳ: Thời hạn nộp báo cáo tháng vào ngày 5 của tháng kế tiếp và báo cáo năm vào ngày 31 tháng 3 năm sau tạo áp lực thời gian rất lớn. Tỷ lệ đơn vị nộp đúng hạn báo cáo tháng ở các huyện miền núi có tỷ lệ đồng bào dân tộc cao chỉ đạt khoảng 65%, nguyên nhân do địa bàn chia cắt và hạ tầng đường truyền internet chưa ổn định.
  • Minh bạch thông tin tài sản và quỹ công: Kết dư ngân sách cấp xã năm 2013 ghi nhận 40,946 tỷ đồng, chiếm 20,63% tổng kết dư ngân sách toàn tỉnh (198,429 tỷ đồng). Dẫu vậy, việc theo dõi các khoản nợ đọng xây dựng cơ bản và quỹ công chuyên dùng trên mẫu B05-X và B06-X còn mang tính hình thức, thiếu thuyết minh chi tiết về năng lực thanh toán các khoản nợ ngắn hạn.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan. Về mặt khách quan, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Quyết định số 94/2005/QĐ-BTC) chậm đổi mới, chưa đồng bộ với lộ trình hội nhập chuẩn mực quốc tế theo định hướng chiến lược kế toán của Chính phủ đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Về mặt chủ quan, trình độ chuyên môn của đội ngũ kế toán cấp xã không đồng đều; tại các xã miền núi, kế toán viên kiêm nhiệm nhiều công việc hành chính nên khó cập nhật kịp thời các kỹ thuật kế toán phức tạp.

So sánh với các nghiên cứu trước đây, kết quả tại Quảng Bình có sự tương đồng với công trình của Nguyễn Thị Phúc (2013) tại Trà Vinh và Võ Minh Nhật Phương (2012) tại Hội An về sự cồng kềnh của hệ thống báo cáo thu chi ngân sách. Tuy nhiên, nghiên cứu tại Quảng Bình chỉ ra điểm khác biệt rõ rệt so với nghiên cứu của Lê Phương Dung (2013) tại Thành phố Hồ Chí Minh: rào cản lớn nhất tại Quảng Bình là khoảng cách tiếp cận công nghệ và năng lực phân tích tài chính của cán bộ cơ sở, trong khi ở các đô thị lớn rào cản chủ yếu nằm ở cơ chế quản lý liên cấp.

Để tối ưu hóa việc truyền tải dữ liệu, các phát hiện nghiên cứu đã được trực quan hóa thông qua Biểu đồ cơ cấu kết dư ngân sách 3 cấp (cấp tỉnh chiếm 19,22%, cấp huyện chiếm 59,64%, cấp xã chiếm 20,63%) và Bảng đối chiếu khó khăn khi xử lý số liệu tài khoản. Việc trình bày bảng biểu phân tích đa chiều giữa dự toán và thực hiện sẽ giúp Hội đồng nhân dân cấp xã dễ dàng kiểm soát dòng tiền công.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán ngân sách cấp xã tại tỉnh Quảng Bình, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:

  • Tái cấu trúc và tinh gọn hệ thống báo cáo trong ngắn hạn (giai đoạn 2016 - 2018): Bộ Tài chính cần sớm ban hành thông tư thay thế Quyết định số 94/2005/QĐ-BTC, thực hiện hợp nhất các mẫu báo cáo có nội dung trùng lặp. Đề xuất tích hợp Báo cáo tổng hợp thu chi theo nội dung kinh tế (mẫu B02a-X, B02b-X) với Báo cáo quyết toán (mẫu B03c-X, B03d-X), bổ sung thêm cột phản ánh tỷ lệ phần trăm hoàn thành dự toán. Giải pháp này hướng tới mục tiêu giảm 30% khối lượng thời gian lập biểu mẫu cho kế toán xã.
  • Xây dựng lộ trình chuyển đổi sang cơ sở kế toán dồn tích (tầm nhìn 2020 - 2030): Từng bước áp dụng Chuẩn mực IPSAS 1 vào khu vực hành chính công. Bắt buộc các đơn vị cấp xã hạch toán đầy đủ nguyên giá và giá trị hao mòn lũy kế của tài sản cố định hình thành từ vốn nhà nước và nhân dân đóng góp, nâng tỷ lệ phản ánh chính xác giá trị tài sản công lên 100%.
  • Nâng cấp và chuẩn hóa hạ tầng phần mềm Misa: Sở Tài chính tỉnh Quảng Bình cần phối hợp với đơn vị cung cấp phần mềm tiến hành nâng cấp tính năng tự động liên kết dữ liệu giữa phân hệ quản lý ngân sách xã với hệ thống thông tin Kho bạc Nhà nước trong thời gian 12 tháng. Mục tiêu loại bỏ hoàn toàn việc nhập liệu thủ công lặp lại tại 143 xã, phường.
  • Bồi dưỡng và chuẩn hóa năng lực nhân sự kế toán công: Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình và Phòng Tài chính các huyện cần tổ chức định kỳ 2 khóa đào tạo chuyên sâu mỗi năm về kỹ năng phân tích báo cáo tài chính và ứng dụng công nghệ thông tin. Đặt mục tiêu đến năm 2018 có 100% cán bộ kế toán cấp xã đạt trình độ chuyên môn từ trung cấp kế toán trở lên.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  • Công chức kế toán tại 143 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Quảng Bình: Tài liệu cung cấp cẩm nang chi tiết về phương pháp lập, kiểm tra và đối chiếu số liệu trên 9 biểu mẫu quyết toán năm, giúp hạn chế các sai sót số học khi quyết toán với Kho bạc Nhà nước.
  • Lãnh đạo UBND và HĐND cấp xã, cán bộ Phòng Tài chính - Kế hoạch cấp huyện: Luận văn là cơ sở tham khảo khoa học để phân tích, đánh giá tính xác thực của các chỉ tiêu thu chi ngân sách, từ đó đưa ra các quyết định phân bổ dự toán hàng năm sát với thực tế địa phương.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và ban soạn thảo chính sách tại Bộ Tài chính: Cung cấp nguồn dữ liệu thực chứng từ 43 đơn vị cơ sở tại một tỉnh miền Trung còn nhiều khó khăn, phục vụ đắc lực cho tiến trình xây dựng Đề án áp dụng Chuẩn mực Kế toán công Việt Nam (VPSAS) tương thích với IPSAS.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Kế toán - Tài chính công: Nguồn tài liệu học thuật giá trị về phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp khảo sát thực địa trong lĩnh vực kế toán công tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao kế toán ngân sách cấp xã cần chuyển dịch từ cơ sở tiền mặt sang cơ sở dồn tích?
Cơ sở tiền mặt chỉ phản ánh luồng tiền thực tế thu chi, bỏ sót các nghĩa vụ nợ tiềm tàng và hao mòn tài sản công. Chuyển sang cơ sở dồn tích theo IPSAS 1 giúp chính quyền cấp xã quản lý minh bạch 40,946 tỷ đồng kết dư ngân sách năm 2013 và kiểm soát toàn diện mọi nguồn lực kinh tế phát sinh.

Điểm khác biệt căn bản giữa chế độ kế toán theo Quyết định số 94/2005/QĐ-BTC và chuẩn mực IPSAS 1 là gì?
Quyết định số 94/2005/QĐ-BTC quy định 9 mẫu báo cáo năm chủ yếu nhằm phục vụ quyết toán thu chi theo mục lục ngân sách. Ngược lại, IPSAS 1 yêu cầu bộ 4 báo cáo tài chính đa năng dựa trên cơ sở dồn tích nhằm cung cấp bức tranh toàn diện về sức khỏe tài chính và tài sản thuần của đơn vị.

Hiệu quả của việc ứng dụng phần mềm Misa tại 143 xã, phường tỉnh Quảng Bình được ghi nhận như thế nào?
Việc triển khai đồng bộ phần mềm Misa từ năm 2012 đã giúp 100% đơn vị tự động hóa khâu ghi chép sổ kế toán kép. Điều này giúp giảm hơn 40% sai sót số học so với phương pháp ghi chép thủ công truyền thống trước đây.

Cỡ mẫu khảo sát gồm 43 đơn vị có đảm bảo tính đại diện khoa học cho tỉnh Quảng Bình không?
Mẫu khảo sát gồm 43 phiếu hợp lệ thu về từ 45 phiếu phát ra tại 7 huyện và 1 thành phố, đạt tỷ lệ hợp lệ 95,56%. Mẫu bao phủ đầy đủ các xã đồng bằng, hải đảo và miền núi (nơi có 8,9% đồng bào dân tộc), đảm bảo độ tin cậy thống kê cao.

Giải pháp nào giúp giảm tải ngay áp lực báo cáo định kỳ cho kế toán viên cấp xã?
Giải pháp khả thi nhất là tích hợp các chỉ tiêu kinh tế trùng nhau giữa mẫu B02-X và B03-X, đồng thời số hóa việc gửi báo cáo qua cổng điện tử liên thông với Phòng Tài chính huyện, giúp cắt giảm 30% thời gian thao tác giấy tờ định kỳ.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về kế toán công quốc tế (IPSAS) và đánh giá thực trạng công tác lập báo cáo ngân sách tại 143 xã, phường, thị trấn tỉnh Quảng Bình.
  • Xác định rõ các bất cập cốt lõi của hệ thống 9 mẫu báo cáo quyết toán năm và sự hạn chế của cơ sở kế toán tiền mặt có điều chỉnh theo Quyết định số 94/2005/QĐ-BTC.
  • Đề xuất giải pháp ngắn hạn giai đoạn 2016 - 2018 tập trung tinh gọn biểu mẫu thu chi, tích hợp phần mềm Misa giúp giảm 30% thời gian xử lý dữ liệu của kế toán cơ sở.
  • Định hình lộ trình dài hạn tầm nhìn 2020 - 2030 từng bước tiếp cận chuẩn mực IPSAS 1 trên cơ sở kế toán dồn tích nhằm nâng cao tính giải trình và minh bạch tài chính công.
  • Các cấp chính quyền địa phương và cơ quan quản lý nhà nước cần khẩn trương triển khai chương trình đào tạo chuẩn hóa năng lực cho 100% kế toán cấp xã ngay trong năm tài chính tới.