Chương 1 giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu, bao gồm bối cảnh chính sách, câu hỏi chính sách, mục tiêu nghiên cứu và phương pháp thực hiện Chương 2 cơ sở lý thuyết, trình bày một số nghiên cứu trước về dịch vụ khuyến nông có thu phí và mức sẵn lòng chi trả, cơ sở lý thuyết và khung phân tích. Chương 3 nội dung và kết quả nghiên cứu, với nội dung nghiên cứu về tình hình chung của hoạt động khuyến nông Việt Nam và xu hướng cung cấp dịch vụ có thu phí. Phân tích trường hợp TP.HCM và bài học kinh nghiệm. Phân tích và đánh giá tình hình cung cấp các chương trình hoạt động của KNBD, đánh giá về khả năng tiến hành cung cấp dịch vụ có thu phí so với nhu cầu của người dân.
Trình bày kết quả nghiên cứu về mức sẵn lòng chi trả đối với dịch vụ có thu phí của người dân, gợi ý chính sách khuyến nông có thu phí. Chương 4 kết luận kết hợp những phân tích, đánh giá từ các chương trước để khuyến nghị về chính sách khuyến nông. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chương 2. Cơ sở lý thuyết về hàng hóa công và phí sử dụng Khái niệm hàng hóa công cộng được đề cập trong các nghiên cứu của của Dina L.Umali và Lisa Schwartz (1994), Jock R.
Anderson và Gershon Feder (2003) về dịch vụ khuyến nông. Dựa trên đặc tính cạnh tranh và loại trừ trong kinh tế để phân loại cho dịch vụ khuyến nông là hàng hóa công cộng hay tư nhân. Phân loại hàng hóa theo hai loại thuộc tính cạnh tranh và loại trừ trong kinh tế đối với thông tin trong nông nghiệp được thể hiện qua bảng sau: Bảng 2.1 Phân loại theo thuộc tính kinh tế của thông tin hàng hóa khuyến nông Loại trừ Thuộc tính Thấp Cao Thấp Hàng hóa công cộng Hàng hóa có thu phí (Public goods). (Toll Goods) -Thông tin truyền thông đại chúng -Nhạy cảm với thời điểm sản -Thời điểm sản xuất không nhạy xuất, tiếp thị, quản lý thông tin.
cảm, tiếp thị, và quản lý thông tin ứng dụng rộng rãi. Cạnh Cao Hàng hóa sử dụng nguồn lực Hàng hóa tư nhân tranh chung (Common pool goods). -Thông tin được thể hiện trong -Thông tin được được thể hiện nguồn tài nguyên sẵn có ở địa trong đầu vào thương mại sẵn phương hoặc các yếu tố đầu vào. -Thông tin về phát triển tổ chức -Thông tin cụ thể hoặc tư vấn khách hàng.
Nguồn: Tham khảo từ Dina L.Umali và Lisa Schwartz (1994). Sự cạnh tranh và loại trừ cao đối với hàng hóa tư nhân và thấp đối với hàng hoá công cộng. Các dịch vụ hàng hóa có thu phí, đặc trưng bởi loại trừ cao và sự cạnh tranh thấp, khi một số người sử dụng có thể được loại trừ khỏi sự tiếp cận, mặc dù những giá trị hàng hóa đó cho người sử dụng không hề giảm đi bởi việc sử dụng của những người khác. Hàng hóa sử dụng nguồn lực chung được sử dụng phổ biến, đặc trưng bởi loại trừ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 thấp và cạnh tranh cao.
Do hai thuộc tính của hàng hóa công đã dẫn đến tình trạng người ăn theo, nên ngoài các đặc tính cạnh tranh và loại trừ, các hàng hóa khuyến nông được tài trợ bởi các khu vực công-tư khác nhau hình thành nên các loại hình dịch vụ khuyến nông sau: Bảng 2.2 Các hình thức tài trợ công-tư cho dịch vụ khuyến nông Cung cấp Tài chính Công (thuế) Tư - Khuyến nông truyền thống - Khuyến nông có thu phí Công - Hợp đồng với thể chế công - Trợ cấp cho các nhà cung cấp - Dịch vụ tư vấn thương mại dịch vụ khuyến nông - Cung cấp thông tin mua bán đầu Tài - Hợp đồng tài trợ công cho vào trợ dịch vụ khuyến nông - Hợp đồng khuyến nông cung cấp Tư cho người trồng - Quảng cáo trên báo chí, phát thanh, truyền hình, tạp chí - Bán báo, tạp chí Nguồn: Tham khảo Alex, Zijp and Byerlee( 2002) trích bởi Jock R. Anderson and Gershon Feder (2003) p.11 Phí sử dụng Việc áp dụng mức phí cho dịch vụ khuyến nông cần dựa trên đặc điểm của hàng hóa mà khu vực nhà nước hay tư nhân tham gia cung cấp. Với nguồn ngân sách là có hạn thì hàng hóa khuyến nông cung cấp bởi khu vực nhà nước ở Việt Nam là một loại hàng hóa công không thuần túy. Theo Đặng Văn Thanh (2008) mục đích của việc định giá hay định mức phí đối với hàng hóa công không thuần túy nhằm khuyến khích sử dụng nguồn lực hiệu quả và tạo nguồn thu cho ngân sách.
Và cần có sự cân nhắc khi định giá hay tính phí sử dụng đối với hàng hóa công: căn cứ vào tính hiệu quả, khả thi khi sử dụng phí hoặc thuế để tài trợ cho dịch vụ khuyến nông; việc tạo nguồn thu và thu hồi chi phí có sự đánh đổi với mục tiêu hiệu quả; và cần cân nhắc về tính công bằng để đảm bảo người dân có thể tiếp cận được đối với dịch vụ khuyến nông. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cơ sở lý thuyết về mức sẵn lòng chi trả Theo Nguyễn Văn Song và Vũ Thị Phương Thụy (2006) phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contingent valuation method - CVM) nhằm tìm hiểu khả năng bằng lòng chi trả của khách hàng về sự thay đổi của chất lượng hàng hóa dịch vụ cũng như môi trường. Việc áp dụng phương pháp CVM phỏng vấn trực tiếp người dân với các giả định về dịch vụ khuyến nông sẽ áp dụng thu phí để tìm hiểu về sự sẵn lòng chi trả của người được phỏng vấn.
Qua đó nắm bắt được mức giá mà người dân sẵn lòng chi trả qua cảm nhận của họ đối với giá trị mà hoạt động khuyến nông đem lại. Các nghiên cứu Oladele O. (2010) có đề cập đến phương pháp đánh giá ngẫu nhiên nhằm tìm hiểu khả năng sẵn lòng chi trả của người dân đối với sự thay đổi đối với dịch vụ khuyến nông. Dịch vụ khuyến nông có thu phí do khu vực công cung cấp trên địa bàn tỉnh chưa được phổ biến áp dụng, nên nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên để ước lượng mức sẵn lòng chi trả của người dân đối với dịch vụ khuyến nông có thu phí.
Với giả định việc tiến hành thu phí cho ba loại hình dịch vụ khuyến nông hiện tại: thứ nhất là dịch vụ tư vấn về kỹ thuật để chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong các mô hình trình diễn; hai là dịch vụ tập huấn cho người dân về kỹ thuật trồng, chăm sóc, phòng trừ bệnh, huấn luyện nghề cho nông dân; và ba là dịch vụ tham quan giới thiệu mô hình hiệu quả nhằm chia sẻ kiến thức kinh nghiệm nhà nông đến nhà nông. Giả thuyết đặt ra cho hoạt động khuyến nông hiện tại sẽ tiến hành thu phí nhằm cung cấp theo nhu cầu của hộ, cụ thể nhằm tìm hiểu mức sẵn lòng chi trả như: “ông bà có sẵn lòng để chi trả tiền tư vấn kỹ thuật cho cán bộ khuyến nông hay không?”; “ông bà có sẵn lòng đóng tiền để tham gia lớp tập huấn về nông nghiệp?”; “ông bà có sẵn lòng đóng tiền đi tham quan hay không?” và sử dụng câu hỏi mở đối với việc nếu phải chi trả cho các dịch vụ khuyến nông thì “mức sẵn lòng chi trả tối đa của ông bà là bao nhiêu?”. Các nghiên cứu trước về dịch vụ khuyến nông có thu phí và mức sẵn lòng chi trả Dịch vụ khuyến nông được đề cập từ năm 1996, trong nghiên cứu của Ariel Dinar (1996) tổng hợp kinh nghiệm thương mại hóa khuyến nông như sau: Việc thương mại hóa dịch vụ khuyến nông được diễn ra ở các nước phát triển và cả đang phát triển LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đáp ứng với xu hướng cắt giảm ngân quỹ dành cho khuyến nông có các lựa chọn được tranh luận trong việc tài trợ cho dịch vụ khuyến nông.
Điều đó bao gồm việc thay đổi thể chế, bắt đầu việc thu hồi chi phí, thương mại hóa và tư nhân hóa. Các phân tích định tính bởi các chuyên gia khuyến nông (Wilson, Hercus, Legouis, Maalouf, Contado & Adhikarya, trích bởi Ariel Dinar, 1996) tóm tắt nhấn mạnh xu hướng dịch vụ khuyến nông có thể hướng theo nhu cầu (Wilson, trích bởi Ariel Dinar, 1996). Nghiên cứu về mức sẵn lòng chi trả còn có nghiên cứu của Yapa K.(2005), nghiên cứu này tiến hành nghiên cứu các nhà sản xuất trà quy mô nhỏ sẵn sàng để trả cho dịch vụ khuyến nông, với các mục tiêu của phân tích dựa trên lệ phí và các yếu tố ảnh hưởng đến việc sẵn lòng chi trả của họ. Trong mô hình nghiên cứu sử dụng các biến như tuổi, giới tính, học vấn, kinh nghiệm, diện tích đất, quy mô gia đình, tỷ lệ thu nhập từ trà so với tổng thu nhập của nông hộ nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sẵn lòng chi trả cho dịch vụ khuyến nông.
Kết quả của mô hình hồi quy với số lượng 100 mẫu và ở mức ý nghĩa 5% thì bảy biến sử dụng chỉ có hai biến là biến kinh nghiệm và tỷ lệ thu nhập từ trà trên tổng thu nhập hộ có ý nghĩa tác động đến sự sẵn lòng chi trả. Thu nhập thấp có thể là lý do để giải thích về tỷ lệ sẵn lòng chi trả cho dịch vụ thấp là 24% so với số nông hộ không đồng ý chi trả, và nghiên cứu nhận thấy rằng chính phủ vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ khuyến nông cho nông hộ trà. Nghiên cứu của Richard Foti và các cộng sự (2007), xác định nhu cầu của nông đan đối với dịch vụ có thu phí khuyến nông ở Zimbabwe, nghiên cứu sử dụng hàm hồi quy logistic để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của người dân đối với dịch vụ có thu phí của khuyến nông. Với 120 mẫu được chọn lọc từ đại diện 4 huyện của Zimbabwe, mỗi huyện là 30 hộ.
Các yếu tố về đặc tính của nông hộ: về giới tính, tuổi, tham gia huấn luyện, sở hữu đất, quy mô nông hộ, mức độ thương mại hóa cây trồng, vật nuôi, khu vực, nuôi cừu, nuôi dê, nuôi gà, trồng bông sợi có ý nghĩa tác động đến sự sẵn lòng trả của nông hộ ở mức ý nghĩa 5% và với độ phù hợp của mô hình R2 hiệu chỉnh là 49%. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Nghiên cứu của tác giả Oladele O.I (2008) xem xét các yếu tố xác định mức sẵn lòng chi trả của người nông dân cho dịch vụ khuyến nông ở Bang Oyo, Nigeria.