Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu và những lí luận chung về quản lý nhân lực kiểm toán nhà nước Chương 2. Phương pháp nghiên cứu Chương 3. Thực trạng quản lý nhân lực kiểm toán nhà nước khu vực II Chương 4.
Định hướng và Giải pháp hoàn thiện quản lý nhân lực Kiểm toán nhà nước khu vực II. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÂN LỰC KIỂM TOÁN NHÀ NƢỚC 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Trong thời gian qua đã có các nghiên cứu của các tác giả; đặc biệt có nhiều bài viết của các đồng chí nguyên Lãnh đạo, lãnh đạo đương nhiệm của ngành KTNN liên quan nhân lực nói chung đến thực trạng quá trình phát triển của KTNN trong đó gắn với sự phát triển, quản lý nhân lực của KTNN với các góc độ, đối tượng nghiên cứu ở các mức độ khác nhau, có thể khái quát lại như sau: Cuốn sách “Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện” (Thành Duy, 2002) đã nêu bật được những vấn đề cơ bản về mối quan hệ giữa văn hóa với việc xây dựng con người; về đặc điểm và bản chất, quan hệ và giải pháp phát triển con người phát triển toàn diện trong bối cảnh hiện nay.
Cuốn sách “Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (Phạm Minh Hạc, 2001) đã nêu được những yêu cầu, những hạn chế của nguồn nhân lực trong thời kỳ phát triển mới, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bài viết “Định hướng và giải pháp phát triển KTNN đến 2015, tầm nhìn 2020” (Vương Đình Huệ, 2009) và bài viết “Mục tiêu chiến lược phát triển KTNN đến 2020 và kế hoạch hành động” (Đoàn Xuân Tiên, 2011) đã nói rõ tầm quan trọng của nguồn nhân lực KTNN giai đoạn 2015-2020. Các đề tài cấp bộ đã được bảo vệ thành công của KTNN gồm: Kiểm toán Nhà nước Việt Nam (2001), Vai trò của KTNN trong công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước (2001). Kiểm toán Nhà nước Việt Nam (2002).
Vai 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trò của KTNN trong quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân (2002). Các đề tài, tài liệu, báo cáo này đã đưa ra cơ sở lý luận về nhân lực nói chung; quá trình hình thành và phát triển và một số văn bản liên quan đến các kết quả kiểm toán, các quy định của ngành KTNN nói chung, KTNN khu vực II nói riêng và vai trò của việc nâng cao năng lực nhân lực. Tuy nhiên các đề tài nghiên cứu, tài liệu, báo cáo… chỉ mới dừng lại ở việc nghiên cứu những vấn đề chung nhất, bên ngoài của nhân lực, chưa làm rõ hơn những đặc trưng của KTNN, KTNN khu vực II; địa bàn hoạt động kiểm toán sẽ chi phối, ảnh hưởng như thế nào, sự gắn kết ra sao với chất lượng nhân lực tại KTNN khu vực II thì từ đó mới có những đánh giá tổng thể, khách quan và đưa ra được nội dung sát đúng, cụ thể hơn quản lý nhân lực tại KTNN khu vực II. Những vấn đề lí luận và thực tiễn về quản lý nhân lực kiểm toán nhà nước 1.
Khái niệm nhân lực Nhân lực là nguồn lực con người. Nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nhân lực nằm trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác.
Thứ hai, nhân lực được hiểu là tổng thể nhân lực của từng cá nhân con người. Với tư cách là một nhân lực của quá trình phát triển, nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định. Khái niệm nhân lực được sử dụng rộng rãi ở các nước có nguồn kinh tế phát triển từ những năm giữa thế kỷ thứ XX, với ý nghĩa là nguồn lực con người, thể hiện một sự nhìn nhận lại vai trò yếu tố con người trong quá trình phát triển. Nội hàm nhân lực không chỉ bao hàm những người trong độ tuổi 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lao động có khả năng lao động, cũng không chỉ bao hàm về mặt chất lượng mà còn chứa đựng hàm ý rộng hơn.
Trước đây, nghiên cứu về nguồn lực con người thường nhấn mạnh đến chất lượng và vai trò của nó trong phát triển kinh tế xã hội. Trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, con người được coi là một phương tiện hữu hiệu cho việc đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững thậm chí con người được coi là nguồn vốn đặc biệt cho sự phát triển – vốn nhân lực.Về phương diện này Liên Hợp Quốc cho rằng nguồn lực con người là tất cả những kiến thức kỹ năng và năng lực con người có quan hệ tới sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Ngày nay, nhân lực còn bao hàm khía cạnh về số lượng, không chỉ những người trong độ tuổi mà cả những người ngoài độ tuổi lao động. Formatted: Vietnamese (Vietnam) Ở nước ta khái niệm nhân lực được sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới.
Điều này được thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về nhân lực. Theo Phạm Minh Hạc, nguồn lực con người được thể hiện thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người ( bao gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất). Như vậy, nhân lực không chỉ bao hàm chất lượng nhân lực hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai. Formatted: Vietnamese (Vietnam) Từ những sự phân tích trên, ở dạng khái quát nhất, có thể hiểu nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng duy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội. Khái niệm, đặc điểm nhân lực của Kiểm toán nhà nước 1. Khái niệm nhân lực của KTNN 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhân lực của Kiểm toán nhà nước toàn bộ nguồn lực con người đang công tác trong ngành KTNN. Nguồn lực của KTNN được thể hiện trên số lượng và chất lượng.
Cho đến nay chưa có một khái niệm chung về công chức Kiểm toán Nhà nước bởi vì đây thực sự là một lĩnh vực còn mới mẻ. Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả sử dụng khái niệm như sau: “Công chức Kiểm toán Nhà nước là những người được KTNN tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên trong cơ quan Kiểm toán Nhà nước, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành nghề chuyên môn và xếp vào một ngạch cụ thể trong cơ quan Kiểm toán Nhà nước, có chức danh tiêu chuẩn riêng và được hưởng lương từ Ngân sách nhà nước”. Tóm lại công chức KTNN là công dân Việt Nam, trong biên chế của cơ quan KTNN và hưởng lương từ NSNN có đầy đủ các phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, có trình độ chuyên môn theo ngành nghề được đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của KTNN. Đặc điểm nguồn nhân lực KTNN Xuất phát từ địa vị pháp lý của KTNN được quy định tại Điều 118 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi ngày 28/11/2013 ghi rõ: “Kiểm toán nhà nước là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công”, các quy định của Luật KTNN và trước những yêu cầu, đòi hỏi, sự kỳ vọng của Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Nhân dân hiện nay đối với ngành KTNN do đó nguồn lực của KTNN có những đặc điểm cơ bản sau: - Nguồn nhân lực của KTNN phải là nguồn nhân lực có chất lượng cao: Chất lượng cao trước hết thể hiện phải có trình độ chuyên môn nhất định đáp ứng được các yêu cầu về lĩnh vực kiểm toán (ví dụ yêu cầu phải có trình độ kỹ sư cầu đường để phục vụ cho việc kiểm toán các dự án cầu đường; yêu cầu về tối thiểu phải có số năm kinh nghiệm mới được xét tuyển vào ngành.
Các 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com yêu cầu về cụ thể về tiêu chuẩn chung của Kiểm toán viên nhà nước được quy định tại Điều 29 của Luật Kiểm toán nhà nước và NQ số 1002/NQ-UBTVQH ngày 3/3/2006 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ngoài ra tùy thuộc vào từng ngạch KTV, từng vị trí công tác, Luật KTNN và các quy định của ngành đều quy định rất cụ thể để đáp ứng được công việc. - Nguồn nhân lực khi thực hiện nhiệm vụ kiểm toán phải thực hiện theo đúng các quy trình, chuẩn mực do ngành KTNN ban hành: Công chức, KTV của KTNN khi thực thi công vụ phải tuyệt đối tuân thủ các quy trình, chuẩn mực đã được Luật KTNN, các NQ Quốc hội và quy định của ngành KTNN (ví dụ không được kiểm toán ngoài phạm vi kiểm toán đã được phê duyệt; KTV nhà nước phải xuất trình thẻ khi đến cơ quan kiểm toán…). - Nhân lực KTNN phải tuân thủ tuyệt đối về văn hóa đạo đức ứng xử: Kiểm toán là một nghề mới nhưng trách nhiệm của ngành được Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Nhân dân tin tưởng giao phó trọng trách và kỳ vọng rất lớn để thực thi việc kiểm tra tài chính công, tài sản công dựa trên các chế định pháp luật, các chính sách của Đảng và Nhà nước.
Hoạt động của KTNN nhằm đưa ra các thông tin chính xác về sử dụng tài chính công, tài sản công, qua đó phục vụ cho Quốc hội và Chính phủ vì vậy phẩm chất chính trị, tư cách đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ công chức là một trong những yếu tố đặt lên hàng đầu, nó ảnh hưởng tới sự độc lập, khách quan và liêm chính của nghề nghiệp. Điều này được quy định rõ trong Chuẩn mực số 30 - Bộ quy tắc Đạo đức nghề nghiệp được ban hành kèm theo Quyết định số 01/2014/QĐ-KTNN ngày 07/5/2014 của Tổng Kiểm toán Nhà nước.