Luận án TS: Phát triển nông nghiệp Việt Nam sau khi gia nhập WTO

Luận văn thạc sĩ phân tích sự phát triển nông nghiệp Việt Nam sau khi gia nhập WTO, nêu rõ cơ hội và thách thức trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2014

197
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP

1.1. Những lý thuyết và nghiên cứu về phát triển nông nghiệp

1.2. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của hội nhập KTQT

1.3. Những vấn đề cần nghiên cứu, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP SAU WTO

2.1. Nông nghiệp và phát triển nông nghiệp

2.2. Nông nghiệp và vai trò của sản xuất nông nghiệp

2.3. Phát triển nông nghiệp

2.4. WTO và các Hiệp định liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp

2.5. Vai trò, nguyên tắc hoạt động của WTO

2.6. Các Hiệp định của WTO về nông nghiệp và những cam kết

2.7. Những cơ hội và thách thức đối với phát triển nông nghiệp khi thực hiện các cam kết với WTO

2.8. Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của một số nước

2.8.1. Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp ở Hà Lan

2.8.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc về phát triển nông nghiệp

2.8.3. Kinh nghiệm về phát triển nông nghiệp của Thái Lan

2.8.4. Những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO

3.1. Rà soát việc thực hiện cam kết với WTO và điều chỉnh chính sách nông nghiệp của Việt Nam

3.1.1. Bối cảnh kinh tế Việt Nam khi gia nhập WTO

3.1.2. Rà soát việc thực hiện cam kết với WTO về lĩnh vực nông nghiệp

3.1.3. Điều chỉnh chính sách nông nghiệp

3.2. Thực trạng phát triển ngành nông nghiệp sau WTO

3.2.1. Tăng trưởng ngành nông nghiệp

3.2.2. Chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp

3.2.3. Đầu tư và áp dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp

3.2.4. Tập trung kinh tế và liên doanh, liên kết trong nông nghiệp

3.2.5. Thực trạng về năng lực cạnh tranh

3.2.6. Hạ tầng phục vụ cho phát triển nông nghiệp

3.2.7. Đánh giá chung về phát triển nông nghiệp của Việt Nam sau WTO

3.2.7.1. Những thành tựu
3.2.7.2. Những hạn chế
3.2.7.3. Nguyên nhân của hạn chế trong phát triển nông nghiệp

4. CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI ĐẾN NĂM 2025

4.1. Xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới

4.2. Quan điểm phát triển nông nghiệp Việt Nam

4.3. Phát triển nông nghiệp theo hướng “phát triển bền vững”

4.4. Nâng cao năng lực cạnh tranh là đòi hỏi của phát triển nông nghiệp

4.5. Hình thành mạng sản xuất, chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị ngành hàng trong phát triển nông nghiệp

4.6. Tăng cường áp dụng khoa học và công nghệ trong phát triển nông nghiệp

4.7. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN trong phát triển nông nghiệp

4.8. Một số giải pháp phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, hiệu quả và tăng giá trị gia tăng

4.8.1. Nhóm giải pháp chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp

4.8.2. Nhóm giải pháp đẩy mạnh áp dụng khoa học và công nghệ tiên tiến đồng bộ vào sản xuất, chế biến, kinh doanh và tiêu thụ nông lâm thủy hải sản tạo đột phá mới trong phát triển nông nghiệp

4.8.3. Nhóm giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực tham gia chuỗi giá trị nông sản và năng lực tổ chức thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp

4.8.4. Nhóm chính sách giải quyết mối quan hệ nông nghiệp - nông dân - nông thôn trong phát triển nông nghiệp bền vững

4.9. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và hệ thống chính sách phù hợp với WTO

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển nông nghiệp Việt Nam sau WTO

Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Sự kiện này không chỉ mở ra cơ hội mới cho nền kinh tế mà còn đặt ra nhiều thách thức cho phát triển nông nghiệp Việt Nam. Nông nghiệp, một trong những lĩnh vực chủ chốt của nền kinh tế, đã phải đối mặt với những biến đổi lớn trong chính sách và thị trường. Việc thực hiện các cam kết với WTO đã tạo ra áp lực lớn lên sản xuất nông nghiệp, yêu cầu cải cách và đổi mới để nâng cao năng lực cạnh tranh.

1.1. Tác động của WTO đến nông nghiệp Việt Nam

Gia nhập WTO đã mang lại nhiều cơ hội cho nông sản Việt Nam tiếp cận thị trường quốc tế. Tuy nhiên, điều này cũng đồng nghĩa với việc phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt về chất lượng và an toàn thực phẩm. Các sản phẩm nông nghiệp phải cạnh tranh không chỉ với hàng nội địa mà còn với hàng hóa từ các nước phát triển.

1.2. Chính sách nông nghiệp Việt Nam sau khi gia nhập WTO

Chính phủ đã điều chỉnh các chính sách nông nghiệp nhằm hỗ trợ nông dân và doanh nghiệp trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh. Các chương trình hỗ trợ tài chính, đào tạo kỹ thuật và khuyến khích đầu tư vào công nghệ mới đã được triển khai để cải thiện hiệu quả sản xuất.

II. Thách thức trong phát triển nông nghiệp Việt Nam sau WTO

Mặc dù có nhiều cơ hội, nhưng thách thức của nông nghiệp Việt Nam sau khi gia nhập WTO cũng không nhỏ. Sự cạnh tranh gay gắt từ các sản phẩm nhập khẩu đã làm giảm sức cạnh tranh của nông sản nội địa. Bên cạnh đó, việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm vẫn còn chậm. Nhiều nông dân vẫn duy trì phương thức sản xuất truyền thống, dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp.

2.1. Sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam

Sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế còn yếu. Nhiều sản phẩm chưa đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, dẫn đến khó khăn trong việc xuất khẩu. Việc nâng cao chất lượng sản phẩm và xây dựng thương hiệu là cần thiết để tăng cường sức cạnh tranh.

2.2. Vấn đề về công nghệ trong nông nghiệp

Công nghệ trong sản xuất nông nghiệp vẫn còn lạc hậu. Việc áp dụng công nghệ mới vào sản xuất chưa được phổ biến, dẫn đến năng suất thấp và chất lượng sản phẩm không ổn định. Cần có các chính sách khuyến khích đầu tư vào công nghệ và nghiên cứu phát triển.

III. Phương pháp phát triển nông nghiệp bền vững sau WTO

Để phát triển nông nghiệp bền vững, Việt Nam cần áp dụng các phương pháp hiện đại và hiệu quả. Việc chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất quy mô lớn, áp dụng công nghệ cao và phát triển chuỗi giá trị là những giải pháp quan trọng. Các mô hình hợp tác xã và liên kết sản xuất cũng cần được khuyến khích để nâng cao hiệu quả kinh tế.

3.1. Chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững

Chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững cần tập trung vào việc bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sản phẩm. Các biện pháp như sử dụng phân bón hữu cơ, giảm thiểu hóa chất độc hại trong sản xuất sẽ giúp bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và môi trường.

3.2. Ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp

Việc áp dụng công nghệ thông tin và công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp sẽ giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Các giải pháp như tự động hóa trong sản xuất và quản lý thông minh sẽ giúp tiết kiệm chi phí và tăng hiệu quả sản xuất.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về nông nghiệp Việt Nam

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng các phương pháp hiện đại trong sản xuất nông nghiệp đã mang lại kết quả tích cực. Các mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững đã được triển khai tại nhiều địa phương, giúp nâng cao thu nhập cho nông dân và cải thiện chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, cần có sự hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức để mở rộng quy mô và áp dụng rộng rãi hơn.

4.1. Kết quả từ các mô hình sản xuất nông nghiệp

Các mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững đã cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Nhiều nông dân đã chuyển đổi sang sản xuất hữu cơ và áp dụng công nghệ mới, từ đó tăng thu nhập và cải thiện đời sống.

4.2. Đánh giá tác động của chính sách nông nghiệp

Chính sách hỗ trợ nông nghiệp đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam. Tuy nhiên, cần tiếp tục điều chỉnh và hoàn thiện chính sách để đáp ứng tốt hơn nhu cầu thực tiễn và yêu cầu của thị trường.

V. Kết luận và tương lai của phát triển nông nghiệp Việt Nam

Phát triển nông nghiệp Việt Nam sau khi gia nhập WTO đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức. Để tận dụng tốt các cơ hội, cần có sự đồng bộ trong chính sách và hành động từ chính phủ, doanh nghiệp và nông dân. Tương lai của nông nghiệp Việt Nam phụ thuộc vào khả năng thích ứng và đổi mới trong sản xuất, cũng như việc xây dựng thương hiệu và nâng cao chất lượng sản phẩm.

5.1. Định hướng phát triển nông nghiệp trong tương lai

Định hướng phát triển nông nghiệp trong tương lai cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm và phát triển bền vững. Các chính sách cần hỗ trợ nông dân trong việc áp dụng công nghệ mới và xây dựng chuỗi giá trị.

5.2. Tầm quan trọng của hợp tác quốc tế

Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nông nghiệp sẽ giúp Việt Nam học hỏi kinh nghiệm và công nghệ từ các nước phát triển. Việc tham gia các hiệp định thương mại tự do cũng sẽ mở ra nhiều cơ hội cho nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueb phát triển nông nghiệp việt nam sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới wto

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP Trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, hội nhập KTQT nói chung và tham gia WTO nói riêng đã trở thành đòi hỏi khách quan đối với sự phát triển của các nền kinh tế, các quốc gia. Do vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tổ chức, các học giả kinh tế nghiên cứu về tác động của hội nhập KTQT và gia nhập WTO, tìm các biện pháp khắc phục hạn chế và thách thức, phát huy thời cơ và ưu thế làm lợi cho quốc gia, doanh nghiệp trong quá trình hội nhập. Đặc biệt Việt Nam là một trong nhóm các nước đang phát triển và chậm phát triển, để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) chủ yếu dựa trên phát triển nông nghiệp,. Do vậy luận án đề cập đến các công trình nghiên cứu có liên quan đến phát triển nông nghiệp và ảnh hưởng của hội nhập KTQT đến phát triển nông nghiệp.

Có thể phân các công trình nghiên cứu thành hai nhóm: (i) Các nghiên cứu đi sâu về những lý thuyết phát triển nông nghiệp, CNH, HĐH. (ii) Các nghiên cứu đi sâu về ảnh hưởng của hội nhập KTQT, những thời cơ và thách thức, cũng như tìm giải pháp để hạn chế các khó khăn phát huy lợi thế để nâng cao hiệu quả trong quá trình hội nhập KTQT và tham gia WTO. Những lý thuyết và nghiên cứu về phát triển nông nghiệp Nông nghiệp là lĩnh vực sản xuất có những nét đặc thù, là ngành sản xuất gắn với sinh vật, bị chi phối bởi quy luật sinh học, các điều kiện ngoại cảnh (đất đai, thời tiết - khí hậu) và là ngành sản xuất ra sản phẩm tất yếu để xã hội tồn tại và phát triển, vì thế từ lâu rất được các nhà kinh tế quan tâm và được đề cập nhiều trong các lý thuyết kinh tế, nhất là trong các mô hình phát triển kinh tế của các nước chậm phát triển hiện đang tiến hành CNH, HĐH. Để thấy rõ các thuyết về phát triển nông nghiệp theo các trường phái chính sau: 6 - Trường phái đề cao vai trò của nông nghiệp, coi nông nghiệp là cơ sở hay tiền đề cho quá trình công nghiệp hoá.

Đại diện cho trường phái lý thuyết này có thể kể đến Mellor và Johnston, và sau nữa là nhà kinh tế học nổi tiếng người Mỹ Simon Kuznets. Trong nghiên cứu “The Role of Agriculture in Economic Development” (Vai trò của nông nghiệp trong phát triển kinh tế) vào năm 1961, Johnston và Mellor cho rằng, việc xây dựng một nền nông nghiệp vững mạnh và năng động sẽ là một nhân tố quan trọng thúc đẩy công nghiệp phát triển và sự tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế. Theo hai học giả này, nông nghiệp có 5 vai trò quan trọng: 1) cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhu cầu trong nước; 2) xuất khẩu nông sản để thu ngoại tệ; 3) tạo nguồn lao động cho khu vực công nghiệp; 4) mở rộng thị trường nội địa cho sản phẩm công nghiệp và 5) tăng nguồn tiết kiệm ở trong nước để tạo vốn cho phát triển công nghiệp. [88] Cùng với quan điểm của Johnston và Mellor, năm 1965, Kuznets đã tiếp tục khẳng định sự đóng góp của nông nghiệp vào tăng trưởng kinh tế thông qua trao đổi buôn bán sản phẩm với các khu vực khác nhau ở trong và ngoài nước, cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu, vốn, thị trường cho quá trình CNH, HĐH.

Tất cả những điều này được ông thể hiện trong tác phẩm “Economic Growth and Structure” (Tăng trưởng kinh tế và cơ cấu) [84]. Các tác giả thuộc trường phái đề cao vai trò của nông nghiệp trong quá trình phát triển. Họ cho rằng, nông nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế. Ở đây, nông nghiệp được đề cao, nhưng xét về thực chất đó là sự khai thác cạn kiệt các nguồn lực của nông nghiệp để chuẩn bị tiền đề phục vụ cho sự phát triển công nghiệp hoá, đô thị hoá (CNH, ĐTH).

Theo chúng tôi, hiện tại và trong giai đoạn tới, nông nghiệp có vị trí và vai trò nhất định. Bởi vì, với xu thế toàn cầu hoá, nếu dựa quá nhiều vào sản xuất nông nghiệp theo thuyết này sẽ khó đảm bảo cho việc phân bổ nguồn lực 7 một cách hiệu quả. Mặc dù vậy, ở một mức độ nhất định nào đó, thuyết này vẫn còn có giá trị đối với những nước đang trên con đường tiến tới CNH, HĐH mà có xuất phát điểm là nông nghiệp. - Trường phái phát triển hài hoà giữa nông nghiệp và công nghiệp.

Đại diện cho trường phái này là E. Schumacher và một số học giả người Mỹ như Colander, Roy Cohn, Mark Morlock và Robert Stonebreaker. Trong tác phẩm “Small is beautiful” (nhỏ là đẹp), E. Schumacher cho rằng, phải chú ý thoả đáng tới phát triển nông nghiệp, nhất là đối với những nước đang phát triển.

Schumacher đề xuất một quan điểm sâu rộng hơn: đảm bảo cho con người tiếp xúc với thiên nhiên sinh động; nhân bản hoá và nâng cao chất lượng của nơi sinh sống rộng lớn hơn dành cho con người; cung cấp lương thực, thực phẩm và các nguyên liệu cần thiết khác cho việc đảm bảo một cuộc sống đầy đủ và hợp lý. Về cơ bản, Schumacher đồng tình với quan điểm công nghiệp hoá, song ông không tán thành thực hiện công nghiệp hoá bằng cách “bóp nặn” mọi nguồn lực của nông nghiệp; cần kết hợp hài hoà và phát triển cân đối giữa công nghiệp và nông nghiệp, phải dùng những thành quả của công nghiệp để phục vụ lại nông nghiệp làm cho nông nghiệp phát triển bền vững hơn. Quan điểm phát triển cân đối và hài hoà giữa nông nghiệp và công nghiệp còn cho rằng, phát triển nông nghiệp cần phải đặt trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu; yếu tố cạnh tranh cần được chú trọng và tăng cường trên cơ sở nâng cao năng suất lao động; nâng cao tính tự chủ của nông dân trong quá trình ra quyết định sản xuất; đảm bảo chuyển dần nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp hiện đại; kết hợp phát triển công nghiệp gắn với nông nghiệp và các ngành công nghiệp khác, nâng cao nguồn lực con người,. Quan điểm này coi trọng đầu tư cho nông nghiệp và đầu tư vào nguồn nhân lực.

Thuyết này nhấn mạnh tới phát triển bền vững của nền kinh tế, nhất là việc sản xuất nhiều 8 hay ít hàng hoá không quan trọng bằng mục tiêu làm cách nào để sản xuất có hiệu quả nhất xét cả về lơị ích xã hội lâu dàì. [89] Như vậy có thể thấy, các quan điểm hay các chủ thuyết về nông nghiệp, thường thay đổi theo thời gian và phù hợp với từng giai đoạn phát triển của mỗi quốc gia. Trường phái thứ hai quan tâm và đề cập nhiều hơn đến môi trường cũng như sự phát triển nông nghiệp bền vững. Có thể nói rằng hầu hết các lý thuyết của các nhà kinh tế học trước đây đều không thuần túy tập trung nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp, mà đều đặt nông nghiệp trong mối quan hệ với các ngành, các lĩnh vực khác, trước hết là với công nghiệp.

- Lý thuyết về phát triển bền vững: Thuật ngữ “phát triển bền vững” hay “phát triển bền lâu” được xuất hiện vào những năm 70 của thế kỷ XX nhưng mãi đến đầu thập niên 80 “phát triển bền vững” mới được Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thế giới (IUCN), Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UPEP) và Quỹ bảo vệ động vật hoang dã quốc tế (WWF) đã được sử dụng trong “Chiến lược bảo tồn thế giới” đã đề xuất nội dung “phát triển bền vững” là: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái”. Trong báo cáo Brundland: “Phát triển bền vững là sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của hiện tại và không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai”. Từ đây, khái niệm “Phát triển bền vững” trở thành khái niệm chìa khóa giúp các quốc gia xây dựng quan điểm, định hướng, giải pháp tháo gỡ trong các vấn đề phát triển, chủ động điều chỉnh (tái cơ cấu) nền kinh tế trong đó có nông nghiệp. Đó là sự phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và hệ thống trợ giúp của tự nhiên đối với cuộc sống con người, động vật và thực vật.

Qua thời gian khái niệm này không chỉ dừng lại ở nhân tố sinh thái mà còn mở rộng thêm nội hàm vào nhân tố xã hội, con 9 người, đặc biệt là bình đẳng xã hội. Như vậy phát triển bền vững là sự kết hợp hài hòa giữa mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường. Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc về môi và phát triển bền vững họp tại Johannesburg, Nam Phi, trong các văn kiện nêu: Phát triển bền vững là sự phát triển không những chỉ đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà còn không làm ảnh hưởng xấu, cản trở đến sự phát triển của các thế hệ tương lai, là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, gồm: tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường. Như vậy đã xác định ba trụ cột của phát triển bền vững đó là: bền vững về kinh tế, bền vững về mặt xã hội và bền vững về môi trường sinh thái.

Các tiêu chí chủ yếu đánh giá sự bền vững là tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên; nâng cao đời sống và chất lượng môi trường sống. Trong hội nhập KTQT các vấn đề phát triển bền vững cũng phải được quan tâm nhằm giải quyết những khía cạnh mang tính toàn cầu của phát triển bền vững như vấn đề nghèo đói và khoảng cách giầu nghèo, khí thải và biến đổi khí hậu… [82] 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ