Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ BẢO HIỂM 1. Cơ sở lý luận chung về hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo hiểm 1. Các khái niệm cơ bản về Bảo hiểm */ Khái niệm: Trong Hiệp định chung về thương mại trong lĩnh vực Dịch vụ (GATS) thì nhóm dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ liên quan tới bảo hiểm bao gồm bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, tái bảo hiểm, trung gian bảo hiểm như môi giới và đại lý, các dịch vụ bổ trợ cho bảo hiểm như tư vấn và tính toán rủi ro. Cũng giống như các ngành dịch vụ khác, dịch vụ bảo hiểm cung cấp cho khách hàng sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình, không có hình dáng, kích thước, trọng lượng.Sản phẩm bảo hiểm là loại sản phẩm đặc biệt, đây là loại sản phẩm vô hình và không được bảo hộ độc quyền, là loại sản phẩm mà người mua không bao giờ muốn nó xảy ra với mình để thực hiện quyền đòi bồi thường hay trả tiền bảo hiểm.
Người mua sản phẩm bảo hiểm chỉ với mục đích đề phòng khi sự kiện bảo hiểm xảy ra vẫn đảm bảo được an toàn về mặt tài chính, ổn định được quá trình sản xuất kinh doanh cũng như đời sống sinh hoạt xã hội. Tham gia vào dịch vụ bảo hiểm gồm có người mua (khách hàng), người cung cấp dịch vụ (các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm) và các tổ chức trung gian (người bảo hiểm môi giới bảo hiểm). - Người bảo hiểm còn gọi là những người cung cấp dịch vụ bảo hiểm: Là các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, là người ký hợp đồng bảo hiểm, được hưởng phí bảo hiểm và cam kết bồi thường cho người mua bảo hiểm tất cả những tổn thất, thiệt hại do rủi ro được bảo hiểm là nguyên nhân trực tiếp gây nên. Các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm hiện nay theo điều 59 của Luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam gồm: Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước, doanh nghiệp bảo hiểm cổ phần, doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh, tổ chức bảo hiểm tương hỗ và doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài.
4 - Người được bảo hiểm: Là những tổ chức hay cá nhân có tài sản hay trách nhiệm dân sự theo luật định, tính mạng hay tình trạng sức khỏe cần phải tham gia bảo hiểm sẽ trực tiếp hay thông qua người môi giới mua các sản phẩm bảo hiểm. Người được bảo hiểm là người có tên trên hợp đồng bảo hiểm hay là người được hưởng lợi ích trên hợp đồng bảo hiểm. - Tổ chức trung gian bảo hiểm: Hay còn gọi là người môi giới, đại lý bảo hiểm là cầu nối giữa người mua và người bán bảo hiểm: Môi giới bảo hiểm có thể là công ty hoặc cá nhân đứng ra thu xếp bảo hiểm với các công ty bảo hiểm. Họ có thể tư vấn về các vấn đề như nhu cầu bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm, thị trường bảo hiểm, khiếu nại, kiện tụng.Môi giới bảo hiểm có thể đại diện cho cả doanh nghiệp bảo hiểm và người được bảo hiểm.
Đại lý bảo hiểm có thể là tổ chức hay cá nhân được doanh nghiệp bảo hiểm ủy quyền trên cơ sở hợp đồng đại lý. Đại lý bảo hiểm thay mặt doanh nghiệp bảo hiểm bán các sản phẩm bảo hiểm của doanh nghiệp và được hưởng lương hoặc tiền hoa hồng theo thỏa thuận. Có thể khái quát dịch vụ bảo hiểm như sau: Dịch vụ bảo hiểm là tất cả các dịch vụ mà người bảo hiểm cung cấp cho người được bảo hiểm. Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ nhằm xây dựng Quỹ bồi thường chung từ sự đóng góp của những người tham gia bảo hiểm có những rủi ro và nhu cầu bảo hiểm giống nhau để được Quỹ bồi thường chi trả khi xảy ra những sự kiện, rủi ro, thiên tai, tai nạn bất ngờ, kém may mắn gây thiệt hại cho những người tham gia bảo hiểm.
Rủi ro là điều kém may mắn có thể xảy ra mà con người không thể lường trước được về không gian xảy ra, thời gian xảy ra và mức độ hậu quả của nó. Người ta cũng có định nghĩa khác về bảo hiểm là sự chia sẻ rủi ro của người tham gia bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm với điều kiện doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro được đem ra chia sẻ và người tham gia bảo hiểm đóng một mức phí bảo hiểm để hình thành nên Quỹ bồi thường nhằm chi trả theo mức độ thiệt hại thực tế khi những rủi ro này gây ra. 5 Như vậy, không phải bất kỳ rủi ro nào muốn được chia sẻ đều được doanh nghiệp bảo hiểm chấp thuận. Chỉ những rủi ro ngẫu nhiên, ngoài ý muốn chủ quan của con người mới được chấp thuận bảo hiểm.
Điều này có nghĩa là doanh nghiệp bảo hiểm chính là người kinh doanh rủi ro. Rủi ro càng nhiều, xác suất xảy ra rủi ro càng lớn và mức độ hậu quả càng nghiêm trọng thì càng hấp dẫn người tham gia bảo hiểm. Tần suất xuất hiện rủi ro và hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra với một cá thể là điều ngẫu nhiên không lường trước được. Nhưng nếu nghiên cứu theo số đông của nhiều cá thể, tại khu vực địa lý càng rộng càng tốt, tại một thời gian càng nhiều càng chính xác thì điều này sẽ cho một xác suất thống kê là một con số không đổi.
Đây chính là cơ sở khoa học của hoạt động kinh doanh bảo hiểm để xác định tính phí bảo hiểm. Để tiến hành bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm thường đưa ra lời cam kết về cách thức, phương thức bồi thường cho những rủi ro được bảo hiểm và không bồi thường cho những trường hợp loại trừ bảo hiểm. Điều này được thể hiện rõ ràng trong đơn bảo hiểm (đúng theo thông lệ quốc tế) hoặc Quy tắc, điều khoản, điều kiện bảo hiểm theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm. Loại trừ bảo hiểm là những trường hợp xảy ra tổn thất do chủ quan của người tham gia bảo hiểm hoặc người hưởng quyền lợi bảo hiểm gây ra hoặc liên quan đến hành vi vi phạm những quy định của pháp luật hiện hành hoặc chuẩn mực đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc.
Tổn thất xảy ra thuộc nguyên nhân đã được loại trừ thì doanh nghiệp bảo hiểm không bồi thường. Ngoài ra, doanh nghiệp bảo hiểm có thể dùng loại trừ bảo hiểm để thu hẹp phạm vi bảo hiểm cho ra đời các sản phẩm bảo hiểm mới với phạm vi bảo hiểm ít hơn và tất nhiên mức phí thấp hơn để khách hàng lựa chọn. Về nguyên tắc, bất kỳ rủi ro nào cũng có thể được bảo hiểm kể cả rủi ro có xác suất gần bằng một nhưng người tham gia bảo hiểm phải đóng một mức phí tương ứng với mức độ rủi ro được bảo hiểm. 6 Ngoài ra các doanh nghiệp bảo hiểm còn dùng mức khấu trừ trong bồi thường nhằm giải quyết những vấn đề sau đây: - Hạn chế việc giải quyết bồi thường với số tiền nhỏ mà công sức để thực hiện việc giám định tổn thất và đòi bồi thường của người tham gia bảo hiểm có thể là lớn hơn nhiều.
- Nâng cao tinh thần trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm trong việc đề phòng hạn chế tổn thất khi chấp nhận mức khấu trừ càng lớn càng được giảm phí bảo hiểm. Mức khấu trừ này luôn đặt người tham gia bảo hiểm khi bất kỳ lúc nào cũng phải mẫn cán trong việc bảo vệ an toàn cho đối tượng được bảo hiểm để tránh xảy ra tổn thất nhỏ trong mức khấu trừ phải tự gánh chịu không được giải quyết bồi thường. Để tăng năng lực chấp nhận bảo hiểm cho những rủi ro có giá trị lớn, các doanh nghiệp bảo hiểm còn dùng kỹ thuật nghiệp vụ tái bảo hiểm cho các công ty chuyên nhận tái bảo hiểm hay các doanh nghiệp bảo hiểm khác. Tái bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của các doanh nghiệp bảo hiểm với các công ty chuyên nhận tái bảo hiểm hay các doanh nghiệp bảo hiểm khác từ những rủi ro mà mình đã chấp nhận bảo hiểm cho khách hàng và không được làm thay đổi nội dung, quyền và lợi ích của khách hàng khi giao kết bảo hiểm.
Như vậy, bảo hiểm là tấm lá chắn kinh tế cho các tổ chức cá nhân trước những rủi ro bất ngờ có thể xảy ra và được chấp thuận bảo hiểm. Nhà nước sử dụng bảo hiểm như là một công cụ để ổn định ngân sách nhà nước trước thiên tai, tai nạn, rủi ro bất ngờ, đồng thời là công cụ xây dựng Quỹ bồi thường tập trung trong thời gian nhàn rỗi chưa giải quyết bồi thường để đầu tư phát triển nền kinh tế xã hội. */ Khái niệm, đặc điểm cơ bản của dịch vụ: Dịch vụ là khái niệm chỉ toàn bộ các hoạt động mà kết quả của chúng không tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể. Hoạt động dịch vụ bao trùm lên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân như: Vận tải, du lịch, thương mại, ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, dịch vụ tư vấn… 7 Có thể định nghĩa một cách chung nhất: Dịch vụ là những hoạt động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể nhằm thỏa mãn một cách kịp thời, thuận tiện và hiệu quả hơn nhu cầu sản xuất và đời sống con người.
Theo nghĩa rộng, dịch vụ được coi là lĩnh vực kinh tế thứ ba trong nền kinh tế quốc dân. Theo nghĩa hẹp, dịch vụ là những hoạt động hỗ trợ cho quá trình kinh doanh bao gồm các hỗ trợ trước, trong và sau khi bán hàng, là phần mềm của sản phẩm được cung ứng cho khách hàng. Sản phẩm dịch vụ có những điểm riêng biệt giúp ta có thể phân biệt với các sản phẩm vật chất: - Sản phẩm dịch vụ là sản phẩm vô hình, không hiện hữu, không tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể. Sản phẩm mà dịch vụ tạo ra để phục vụ thì không thể xác định một cách cụ thể bằng các tiêu chuẩn kỹ thuật.
Cái mà khách hàng cảm nhận được từ sản phẩm dịch vụ lại chính là các phương tiện chuyển giao dịch vụ tới khách hàng. Do vậy mà thái độ bên ngoài của các nhân viên tiếp xúc, của yếu tố bên ngoài rất quan trọng, nó ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ. - Sản phẩm dịch vụ có tính không tách rời. Hay nói cách khác là việc cung ứng sản phẩm và việc tiêu dùng sản phẩm diễn ra đồng thời.