phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm 2 chương, 4 tiết. 13 N I DUNG ƢƠ 1 NHỮ Đ ỀU KIỆN VÀ TIỀ ĐỀ CHO SỰ Ì Ƣ ƢỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ H I CỦ SĨ D Y CU I THẾ KỶ XIX – ĐẦU THẾ KỶ XX 1. B i cảnh thế giới và Việt Nam cu i thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX 1. Tình hình thế giới cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX Cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, tình hình thế giới có nhiều chuyển biến to lớn.
Chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của của nền kinh tế các nước TBCNngày càng làm gia tăng nhu cầu tìm kiếm thuộc địa để cung cấp nguồn tài nguyên và thị trường tiêu thụ hàng hóa. Để mở rộng thị trường, chủ nghĩa tư bản tiến hành xâm lược các nước Á, Phi, Mỹ La tinh – nơi có đẩy đủ điều kiện đáp ứng nhu cầu phát triển của chủ nghĩa tư bản. Trong quá trình xâm lược thuộc địa, Đông Á và Đông Nam Á được xem là mục tiêuxâm lược mà của các nước đế quốc.
Cũng giống như quá trình xâm lược thuộc địa ở các châu lục khác, thủ đoạn nham hiểm nhất mà các nước đế quốc sử dụng chính là trực tiếp đe dọa đến chủ quyền và sự tồn vong của các quốc gia, dân tộc. Lúc này, những người đứng đầu nhà nước của các quốc gia này tỏ ra lúng túng, bị động bởi họ không thể đánh giá đúng bản chất sức mạnh và dã tâm xâm lược của chủ nghĩa thực dân. Mặt khác, những bất ổn trong chính bộ máy nhà nước và đời sống xã hội càng tạo cơ hội cho các nước đế quốc thành công trong công cuộc biến các nước Á Đông thành thuộc địa. Đến đầu thế kỷ XX, miếng bánh thuộc địa phương Đông về cơ bản đã phân chia xong.
Sự xâm lược của các nước đế quốc phương Tây một mặt đã làm phá vỡ xã hội cổ truyền đã tồn tại hàng nghìn năm ở các nước phương Đông. Nhưng mặt khác, với công cuộc khai thác thuộc địa, một 14 mầm mống của một cơ cấu xã hội mới cũng dần được hình thành - mầm mống sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nhìn lại lịch sử xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây và quá trình đấu tranh chống xâm lược của các dân tộc Á Đông trong những năm cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, có thể thấy rằng, mỗi quốc gia, dân tộc đã có những sự thay đổi, chuyển biến để thích nghi với hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Theo đó, các quốc gia, dân tộc sẽ lựa chọn những phương thức ứng phó khác nhau, trong đó nổi lên ba phương thức tiêu biểu: Phương thức thứ nhất: đầu hàng, chấp nhận ách chiếm đóng của thực dân Phương Tây [32, tr.
Đây là phương thức ứng phó đã được các quốc gia Campuchia, Philippin, Inđônêxia lựa chọn. Trong đó, trường hợp của Campuchia là một ví dụ điển hình nhất. Vốn nằm trong địa bàn tranh chấp quyền lực giữa Xiêm và Việt Nam, nhưng khi thực dân Pháp xâm lược thì quốc vương Nôrôđôm đã tự nguyện thần phục nhằm thoát khỏi sức ép của hai nước láng giềng. Phương thức ứng phó thứ hai: kiên quyết đứng lên đấu tranh chống lại cuộc xâm lược của thực dân phương Tây bằng biện pháp kháng chiến [32, tr.
Đây là phương thức ứng phó được nhiều dân tộc Đông Á lựa chọn nhất. Các quốc gia lựa chọn phương thức đối đầu này đều được sự ủng hộ mạnh mẽ của đông đảo dân chúng. Chính nhờ sự ủng hộ mạnh mẽ của quần chúngnhân dân càng làm cho các phong trào phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, những phong trào đấu tranh của các quốc gia, dân tộc ở khu vực Đông Á giai đoạn này đều gặp thất bại.
Nguyên nhân dẫn đến thất bại của các phong trào này chứa đựng cả yếu tố khách quan và chủ quan. Điều đó chứng tỏ trong bối cảnh thế kỷ XIX, phương thức kháng chiến theo kiểu truyền thống không phải là sự lựachọn phù hợp để đối phó với chủ nghĩa thực dân Phương Tây. 15 Phương thức ứng phó thứ ba: tiến hành cải cách, duy tân theo mô hình phát triển của các nước phương Tây. Phương thức ứng phó này được lựa chọn một mặt đối phó với nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa tư bản, nhưng đồng thời góp phần thúc đẩy quá trình các quốc gia Đông Á tự thay đổi mô hình phát triển, tự lực giải thoát khỏi sự trì trệ và bế tắc của lịch sử.
Mặc dù công cuộc duy tân, cải cách được thực hiện và thể hiện dưới nhiều hình thức và sắc thái khác nhau, song đã thể hiện ý chí, nỗ lực tự thân vận động của các dân tộc Đông Á trong việc mô phỏng mô hình phát triển tư bản chủ nghĩa của phương Tây nhằm chỉnh sửa mô hình phát triển truyền thống của mình, mở ra con đường phát triển mới của dân tộc mình thoát khỏi tình trạng lạc hậu, thoát khỏi họa xâm lăng của chủ nghĩa thực dân phương Tây.Tiêu biểu cho phương thức ứng phó này là Nhật Bản và Trung Quốc. Nhật Bản trước năm 1868 là một nước phong kiến. Từ giữa thế kỷ XIX, Nhật Bản cũng như các quốc gia phương Đông khác, đều trở thành miếng mồi cho các nước thực dân phương Tây xâu xé. Trước áp lực của các nước phương Tây đòi mở cửa, Nhật Bản đứng trước hai lựa chọn: tăng cường hệ thống phòng thủ để chống lại sự xâm lược và yêu sách đòi mở cửa của thực dân phương Tây.
Thứ hai, chấp nhận mở cửa giao thương với các nước phương Tây, tránh được họa xâm lăng. Trong bối cảnh đó, chính quyền Nhật đã lựa chọn mở cửa giao thương với phương Tây. Quyết định này của chính phủ Nhật Bản cho thấy nỗ lực của chính quyền trong việc giữ thế chủ động ngoại giao và hy vọng vào khả năng duy trì độc lập. Sau cuộc đấu tranh quyết liệt và thắng lợi chống lại các thế lực thủ cựu, Nhật Bản đã bắt đầu công cuộc duy tân trên tất cả mọi mặt của đời sống xã hội.
Và thực chất của công cuộc cải cách của Nhật bản chính là tuân theo những yêu cầu phát triển theo phương thức sản xuất tư bản chủ 16 nghĩa tuyvẫn còn giữ nhiều tàn tích phong kiến trọng yếu trong chính trị. Nhờphát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa mà Nhật Bản giữ được độc lập tự do cho dân tộc, sớm trở thành quốc gia cường thịnh trong khu vực và đi theo con đường mà chủ nghĩa thực dân phương Tây đã đi: bành trướng chính sách thực dân, tiến hành xâm lược thuộc địa. Trung Quốc là quốc gia phong kiến điển hình nhất ở phương Đông. Các nước như Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam… đều chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của văn minh Trung Hoa.
Cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, cũng giống như Việt Nam, Trung Quốc từ một quốc gia quân chủ phong kiến tập quyền trở thành quốc gia nửa thuộc địa nửa phong kiến sau các cuộc xâm lược thực dân phương Tây. Sau khi trở thành thuộc địa, mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng dần xuất hiện. Chính sách bế quan tỏa cảng dần bị phá bỏ, mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa dần được hình thành. Bên cạnh đó, việc mở cửa giao thương với bên ngoài cùng với những ảnh hưởng từ duy tân Nhật Bản cũng tạo điều kiện cho sự thay đổi trong thế giới quan của giới trí thức Trung Quốc, đồng thời là nguồn gốc của những trào lưu tư tưởng, cải cách kỷ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX.
Những năm đầu thế kỷ XX, cuộc đấu tranh của nhân dân Trung Quốc không ngừng phát triển; các sĩ phu tiến bộ và trí thức tư sản đã mạnh dạn đòi cải cách, sáng lập ra nhiềuhọc hội, học đường, nhà xuất bản. Tiêu biểu là chủ trương “Biến pháp duy tân” do Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu đứng đầu, tồn tại dưới tổ chức mang tên “Cường học hội”, với chủ trương chính duy trì và cải tiến chế độ phong kiến nhà Thanh. Họ tiến hành công cuộc duy tân vào năm 1898 học tập theo mô hình Nhật Bản. Nhưng sau đó phong trào thất bại, biến pháp không thể thi hành do sự đàn áp của phe thủ cựu trong triều đình.
Bên cạnh đó, phong trào chưa có sự tham gia của quần chúng nhân dân, đây có thể coi là lực lượng cơ bản nhưng biến pháp duy tân lại thiếu hụt điều này. 17 Biến pháp duy tân thất bại nhưng để lại những ý nghĩa to lớn trong việc thức tỉnh ý thức của quần chúng nhân dân lao động trong việc chống ngoại xâm. Bên cạnh tổ chức “Cường học hội” còn có “Đồng minh hội” (1905) được thành lập dựa trên lực lượng chính là những trí thức Tây học do Tôn Trung Sơn đứng đầu, lực lượng chính là giai cấp tư sản, hoạt động với chủ trương đánh đổ Mãn Thanh, khôi phục Trung Hoa, thành lập chính phủ liên hiệp. Đồng minh hội là đại diện tiêu biểu nhất của phong trào cách mạng tư sản Trung Quốc đầu thế kỷ XX, lãnh đạo cách mạng Tân Hợi (1911) thành công, lập ra Trung Hoa dân quốc.
Từ đây, chế độ quân chủ chuyên chế bị lật đổ, chế độ cộng hòa ra đời. Nhưng trên thực tế, cách mạng Tân Hợi vẫn chưa giải quyết được vấn đề cơ bản nhất trong xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ là đánh đuổi đế quốc, cũng chưa giải quyết được vấn đề ruộng đất cho nhân dân. Từ nửa sau thế kỷ XIX, hầu hết các quốc gia Đông Nam Á đều trở thành đối tượng xâm lược của các nước tư bản phương Tây. Đến những năm 90 của thế kỷ XIX, về cơ bản, miếng bánh thuộc địa Đông Nam Á đã được phân chia xong.
Thực dân Anh chiếm Malaixia, Mianma; Pháp chiếm Việt Nam, Lào, Campuchia; Tây Ban Nha sau đó là Mỹ chiếm Philippin; Hà Lan chiếm Indonesia. Ở Đông Nam Á chỉ có duy nhất Thái Lan thoát khỏi tình trạng thuộc địa nhưng về cơ bản vẫn là nước phụ thuộc. Sau khi quá trình xâm lược hoàn thành, các quốc gia phương Tây bắt đầu vào quá trình khai thác thuộc địa. Cùng với đó là phong trào yêu nước, phong trào đấu tranh tại các nước thuộc địa bùng lên mạnh mẽ.
Nhưng hầu hết các phong trào này đều thất bại. Phải đến khi cách mạng tháng Mười Nga (1917) thắng lợi, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Á mới có những chuyển biến, dấu hiệu tích cực.