Chương 1 TRUYỆN NGẮN TRIỆU BÔN TRONG DÒNG CHẢY TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975 VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC 1.Truyện ngắn Triệu Bôn trong dòng chảy truyện ngắn Việt Nam sau 1975 1. Khái lược về thể loại truyện ngắn Thuật ngữ truyện ngắn có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau. Theo Từ điển thuật ngữ văn học “Truyện ngắn là hình thức tự sự loại nhỏ; truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống: một biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạn nào đó của đời sống nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của đời sống nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề xã hội” [51, tr. Trong 150 thuật ngữ văn học, truyện ngắn được xác định là “thể tài tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập đến hầu hết các phương diện đời sống con người và xã hội”[5, tr.
Như vậy, các định nghĩa về thể loại đều nhấn mạnh truyện ngắn là hình thức tự sự cỡ nhỏ, có khả năng nắm bắt vấn đề nhanh nhạy, kịp thời, có khả năng diễn tả sâu sắc tinh tế những vận động, thay đổi trong quan hệ nhân sinh, đời sống và tâm hồn con người. Từ khía cạnh tiếp nhận, khía cạnh hiệu quả đời sống, người viết truyện ngắn “chỉ cần một ít trang văn xuôi vậy mà họ có thể làm nổ tung trong tình cảm và ý nghĩ người đọc những điều rất sâu xa và da diết của con người…Ở đây truyện ngắn có cái gì gần với thơ. Đó là tính cô đúc” [5, tr. Khi đề cập đến thể loại truyện ngắn, một số nhà nghiên cứu cũng đưa ra những liên tưởng độc đáo, thú vị.
Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng nhận xét: “Truyện ngắn như một “trinh sát viên” đã trườn tới, đột vào các ngõ ngách sâu nhất của đời sống để khám phá và phát hiện…Giống như loại kính hiển vi có độ phóng cực mạnh, truyện ngắn giúp chúng ta nhìn sâu hơn và thấy rõ ràng hơn cuộc sống của con người trong những biểu hiện phong phú và phức tạp nhất của tư tưởng, tình cảm và tâm lí” [55, tr. Qua đó bạn đọc dễ dàng nhận ra sự sâu sắc ở phương diện con người, cuộc sống mà thể loại truyện ngắn mang đến. Với bản chất của thể loại, truyện ngắn có sức mạnh riêng độc đáo. “Bản chất đặc trưng thể loại của truyện ngắn cho phép nó và buộc nó phải vượt qua sự mô tả, kể lể dài dòng, nhanh chóng dồn nén lại, đúc đến đặc sệt và nhọn hoắt hiện thực” [29].
Sự mở rộng dung lượng cuộc sống được phản ánh ngày nay đã khiến cho nó vừa có thể tái hiện được “những số phận, những cuộc đời, những thế hệ thậm chí cả thời đại”, vừa có khả năng “đi thẳng vào c 9 vấn đề nhân sinh, lẽ sống ở đời sâu và sắc hơn” [40, tr. Nhà nghiên cứu Vũ Tuấn Anh cho rằng lý do để thể loại truyện ngắn “lên ngôi”, trở thành mũi nhọn của văn xuôi hiện nay là bởi “sự hàm súc, cô đọng, sự khai thác theo chiều sâu số phận và nội tâm con người, tính tập trung của chủ đề và triết lí, những gợi mở…tạo cho truyện ngắn hiện nay một chất lượng mới vươt ra ngoài cái khung chật hẹp của của thể loại” [3, tr. Tác giả đã cho chúng ta nhận ra dáng vẻ mới, có chiều sâu, càng ngày càng được mở rộng biên độ của thể loại truyện ngắn như một thể loại rất có triển vọng trong đời sống văn học thời kì đổi mới và hội nhập. Nhà nghiên cứu Bích Thu trong một bài viết đã ghi nhận: “Với đặc trưng cơ bản của thể loại, truyện ngắn đã tạo cơ sở cho sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người…Văn học sau 1975, nhất là ở truyện ngắn đã đề cập đến vị trí và giá trị của con người cá nhân” [57, tr.34], tác giả cũng chỉ ra những đặc trưng cơ bản của hình tượng con người trong các tác phẩm thời kì đổi mới: “Trên địa hạt truyện ngắn, nhà văn đã khắc hoạ chân dung những con người vừa đẹp đẽ, cao thượng, vừa đời thường, trần thế, luôn khao khát cái đẹp và hướng tới cái thiện” [56, tr.
Con người trong văn học đương đại vì thế không còn giản đơn, nguyên phiến mà đã có phần xấu - tốt, thiện - ác hoà trộn lẫn nhau. Từ đó, nhà nghiên cứu khẳng định: “Đó chính là nét nổi bật mang đậm ý nghĩa nhân văn khi nhìn nhận con người tạo nên tiếng nói đa thanh trong truyện ngắn hôm nay” [56, tr. Như vậy, sự thay đổi, cách tân táo bạo trong thể loại truyện ngắn đương đại đã làm độc giả cảm nhận rõ ràng cuộc sống thật gần gũi đang chảy trôi trong dòng mạch truyện ngắn với hình ảnh những con người rất thật, rất quen thuộc. Với những nét đặc trưng thể loại, có thể thấy rõ ràng truyện ngắn là một thể loại năng động, dễ bắt kịp với nhịp thở của cuộc sống đương đại, có thể kịp thời phản ánh các vấn đề của cuộc sống một cách nhanh nhất, cập nhật tình hình thời sự nóng hổi nhất.
Vì là một thể loại năng động cho nên truyện ngắn hiện nay mang trong mình nhiều dấu hiệu mới, nhiều biến đổi, cách xây dựng truyện ngắn đa dạng hơn, xu hướng cách tân, đổi mới trong hình thức diễn đạt, mang đến những điều mới mẻ trong sự tiếp nhận với bạn đọc. Truyện ngắn đã mang đến cho bản thân thể loại những giá trị mới mẻ, riêng biệt. Trong bức tranh chung của công cuộc đổi mới, văn học đang chuyển mình tìm lối đi để phản ánh kịp thời, nhanh nhạy những biến cố phong phú của cuộc sống. Do vậy mà các thể loại văn học có sự vận động và phát triển.
Cùng với những ưu thế nhất định của thể loại, truyện ngắn luôn là món ăn tinh thần không thể thiếu của công chúng, là lựa chọn hàng đầu của độc giả mọi thời đại, đặc biệt ở cuộc sống vận động không ngừng nghỉ hôm nay. Truyện ngắn Triệu Bôn trong bối cảnh truyện ngắn Việt Nam sau 1975 Ngày 30/4/1975 cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài 30 năm đã kết thúc. Đất nước thu về một mối, bước vào thời kỳ mới. Từ sau 1975, đặc biệt là sau 1986, sự đổi mới của đời sống văn hoá, xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự đổi mới văn học.
Như vậy hoàn cảnh lịch sử mới đã tạo nên một nền văn học với những thay đổi rõ nét, có chiều sâu, phát triển theo hướng đổi mới, dân chủ gây được sự chú ý của dư luận trong tiếp nhận và sáng tạo văn học. Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực. Mỗi thời kì lịch sử lại mang đến cho văn học những đề tài, những nội dung khác nhau cũng như đề ra cho văn học những yêu cầu khác nhau. Trước năm 1975, văn học được đặt trong không khí chiến trận sục sôi của hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại: cuộc kháng chiến chống Mỹ và chống Pháp kéo dài 30 năm.
Đặc điểm nổi bật nhất của văn học là khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Đây là giai đoạn bão táp nhất của lịch sử dân tộc vì thế văn học lúc này trở thành vũ khí đấu tranh, hướng đến mục đích chung của Tổ quốc, theo sát từng nhiệm vụ chính trị của đất nước: ca ngợi Cách mạng và cuộc sống mới, cổ vũ kháng chiến, ngợi ca thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, cổ vũ cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Cảm hứng chủ đạo trong văn học xuất phát từ đời sống chính trị của dân tộc. Tuy nhiên, do hoàn cảnh lúc đó và yêu cầu của thời đại nên văn học thời kì này chưa phản ánh được mối quan hệ đa chiều, đa diện của hiện thực đời sống.
Đó cũng chính là sự hạn chế của văn học thời kì này. Từ năm 1986, với xu hướng dân chủ hoá đã đem đến một luồng gió mới cho văn học. Văn học Việt Nam đến giai đoạn này đã có đổi mới sâu sắc trong quan niệm phản ánh hiện thực, cách khám phá mới về đời sống con người và đã đạt được những thành tựu nhất định. Sự thức tỉnh trở lại ý thức cá nhân đã mở ra cho văn học nhiều đề tài và chủ đề mới, làm đổi thay quan niệm về con người.
Văn học ngày càng đi tới một quan niệm toàn vẹn và sâu sắc hơn về con người mà nền tảng triết học và hạt nhân cơ bản của quan niệm ấy là tư tưởng nhân bản. Con người vừa là điểm xuất phát, là đối tượng khám phá chủ yếu, vừa là cái đích cuối cùng của văn học, đồng thời cũng là điểm quy chiếu, là thước đo giá trị của mọi vấn đề xã hội, mọi sự kiện và biến cố lịch sử. Con người trong văn học hôm nay được nhìn ở nhiều vị thế và trong tính đa chiều của mọi mối quan hệ: Con người xã hội, con người với lịch sử, con người của gia đình gia tộc, con người với phong tục, với thiên nhiên, với những c 11 người khác, và với chính mình. Con người cũng được văn học khám phá, soi chiếu ở nhiều bình diện và nhiều tầng bậc: ý thức và vô thức, đời sống tư tưởng, tình cảm và đời sống tự nhiên, bản năng, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường, con người cụ thể, cá biệt và con người trong tính nhân loại phổ quát.
Khi mà ý thức cá nhân phát triển, quan niệm về con người cũng thay đổi, sâu sắc, toàn diện hơn. Các nhân vật văn học được tiếp cận từ góc nhìn thế sự và đời tư với góc khuất, nhiều bí ẩn, phức tạp, khó nắm bắt. Văn học tập trung đi sâu phản ánh đời sống nội tâm, số phận con người cá nhân thông qua các mối quan hệ trong cộng đồng. Vấn đề tình yêu, hạnh phúc của con người được chú trọng thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau và với những cái nhìn khác trước rất nhiều.
Trình bày con người như nó vốn có, không lí tưởng hoá, thần thánh hoá nó là đặc điểm nổi bật trong quan niệm con người. Mọi ngõ ngách sâu kín nhất của con người, kể cả phần bóng tối đều được phơi trải trên trang giấy. Nhà văn không đưa ra lời phán xét, không phải là kẻ rêu rao chân lí mà chỉ nhằm đối thoại với độc giả về các khả năng của con người cũng như những giới hạn của nó. Số phận con người vẫn là những trăn trở muôn thuở của người cầm bút.