Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ CÁC HUYỆN VEN BIỂN, HUYỆN ĐẢO QUẢNG NINH VÀ VĂN HỌC DÂN GIAN QUẢNG NINH 1. Khái quát điều kiện địa lí, dân cư các huyện ven biển, huyện đảo của Quảng Ninh 1. Khái quát về vùng đất Quảng Ninh 1. Đặc điểm tự nhiên Trong cuốn Đại Nam nhất thống chí có ghi chép về đất Quảng Ninh xưa như sau: “Đất, nhận thế núi làm thành, dựa chỗ cao mà giữ hiểm, có núi để tựa, có biển vòng quanh, địa thế xa lánh mà hiểm yếu, trong thì giữ vững cương vực, ngoài thì khống chế đất Thanh.
Núi cao có Lôi Âm, sông lớn có Bạch Đằng, 22 cửa biển, hơn 10 đồn ải, hải đảo quanh co, sông bến khuất khúc, cũng là nơi then chốt ở ven biển” [43, tr. Như vậy, có thể khẳng định, Quảng Ninh từ xưa đã là nơi đất trọng yếu, có địa hình đặc biệt đồng thời có vai trò to lớn trong việc gìn giữ biên cương. Ở thời hiện tại, Quảng Ninh được biết đến là một tỉnh nằm ở phía Đông Bắc của vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ với toạ độ địa lý khoảng 106o26' đến 108o31' kinh độ đông và từ 20o40' đến 21o40' vĩ độ bắc. Tỉnh có dáng một hình chữ nhật lệch với bề ngang từ đông sang tây, nơi rộng nhất là 195 km, bề dọc từ bắc xuống nam khoảng 102 km, có biên giới quốc gia và hải phận giáp giới nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.
Trên đất liền, phía bắc của tỉnh (có các huyện Bình Liêu, Hải Hà và thị xã Móng Cái) giáp huyện Phòng Thành và thị trấn Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây với 132,8 km đường biên giới; phía đông là vịnh Bắc Bộ; phía tây giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương; phía nam giáp Hải Phòng. Nằm trong vùng Đông Bắc của Tổ quốc, Quảng Ninh còn được ví như một Việt Nam thu nhỏ bởi sự đa dạng của các loại địa hình. Trong đó, ba dạng c 8 địa hình chính tồn tại trong tỉnh đó là khu vực đồi núi, khu vực trung du - đồng bằng ven biển và khu vực vùng biển - hải đảo. Theo Cổng thông tin điện tử Quảng Ninh, vùng núi Quảng Ninh chia làm hai miền: Vùng núi miền Đông từ Tiên Yên qua Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà đến Móng Cái.
Đây là vùng nối tiếp của vùng núi Thập Vạn Đại Sơn từ Trung Quốc, hướng chủ đạo là đông bắc - tây nam. Có hai dãy núi chính: dãy Quảng Nam Châu (1.507 m) và Cao Xiêm (1.330 m) chiếm phần lớn diện tích tự nhiên các huyện Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà, dãy Ngàn Chi (1.166 m) ở phía bắc huyện Tiên Yên. Vùng núi miền tây từ Tiên Yên qua Ba Chẽ, Hoành Bồ, phía bắc thị xã Uông Bí và thấp dần xuống ở phía bắc huyện Đông Triều. Vùng núi này là những dãy nối tiếp hơi uốn cong nên thường được gọi là cánh cung núi Đông Triều với đỉnh Yên Tử (1.068 m) trên đất Uông Bí và đỉnh Am Váp (1.094 m) trên đất Hoành Bồ.
Vùng trung du và đồng bằng ven biển gồm những dải đồi thấp bị phong hoá và xâm thực tạo nên những cánh đồng từ các chân núi thấp dần xuống các triền sông và bờ biển. Đó là vùng Đông Triều, Uông Bí, bắc Yên Hưng, nam Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà và một phần Móng Cái. Ở các cửa sông, các vùng bồi lắng phù sa tạo nên những cánh đồng và bãi triều thấp. Đó là vùng nam Uông Bí, nam Yên Hưng (đảo Hà Nam), đông Yên Hưng, Đồng Rui (Tiên Yên), nam Đầm Hà, đông nam Hải Hà, nam Móng Cái.
Tuy có diện tích hẹp và bị chia cắt nhưng vùng trung du và đồng bằng ven biển thuận tiện cho nông nghiệp và giao thông nên đang là những vùng dân cư trù phú của Quảng Ninh. Vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh là một vùng địa hình độc đáo. Hơn hai nghìn hòn đảo chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước (2078/ 2779), đảo trải dài theo đường ven biển hơn 250 km chia thành nhiều lớp. Có những đảo rất lớn như đảo Cái Bầu, Bản Sen, lại có đảo chỉ như một hòn non bộ.
Có hai huyện hoàn toàn là đảo là huyện Vân Đồn và huyện Cô Tô. Trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long có hàng ngàn đảo đá vôi nguyên là vùng địa hình karst bị nước bào mòn tạo nên muôn nghìn hình dáng bên ngoài và trong lòng là những hang động kỳ thú. c 9 Vùng ven biển và hải đảo Quảng Ninh ngoài những bãi bồi phù sa còn những bãi cát trắng táp lên từ sóng biển. Có nơi thành mỏ cát trắng làm nguyên liệu cho công nghệ thuỷ tinh (Vân Hải), có nơi thành bãi tắm tuyệt vời (như Trà Cổ, Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng.) Điểm đặc biệt ở địa hình đáy biển Quảng Ninh là sự không bằng phẳng, độ sâu trung bình là 20 m.
Có những lạch sâu là di tích các dòng chảy cổ và có những dải đá ngầm làm nơi sinh trưởng các rặng san hô rất đa dạng. Các dòng chảy hiện nay nối với các lạch sâu đáy biển còn tạo nên hàng loạt luồng lạch và hải cảng trên dải bờ biển khúc khuỷu kín gió nhờ những hành lang đảo che chắn, tạo nên một tiềm năng cảng biển và giao thông đường thuỷ rất lớn. Có thể nhận thấy, sự đa dạng về địa hình đã giúp con người nơi đây phát huy được vai trò chính trị, văn hóa, du lịch, thủy sản, khoáng sản, và đặc biệt khơi dậy ở họ lòng tự hào về quê hương đất nước. Mỗi một vùng địa hình với những đặc trưng khác nhau về sắc thái văn hóa một lần nữa tạo nên sự phong phú đa dạng về văn hóa nghệ thuật ở Quảng Ninh.
Đặc điểm dân cư Từ thời cổ xưa, với ưu thế về thiên nhiên ưu đãi, Quảng Ninh đã có con người cư trú. Ngoài người Việt cổ, trải qua hàng ngàn năm lịch sử, Quảng Ninh còn là địa bàn thu hút dân cư từ khắp nơi đến làm ăn, sinh sống. Dù có thể di cư bằng nhiều đường, từ nhiều địa phương khác nhau và trong các thời điểm lịch sử khác nhau, nhưng tất cả họ đều chung mục đích là tìm kế sinh nhai, tìm chốn nương thân ở một nơi có nhiều thuận lợi. Nằm trong vùng văn hoá Bắc Bộ, cư dân Quảng Ninh có những đặc điểm điển hình của cư dân Bắc Bộ là cần cù, chịu khó, tính cộng đồng làng xã, họ tộc rất cao.
Ngoài ra, do những đặc điểm riêng về điều kiện địa lí, lịch sử, nghề nghiệp. tính cách cư dân trong vùng cũng có những điểm khác biệt. Đó là sự mạnh mẽ, thẳng thắn, thô mộc và đơn giản trong cuộc sống. Họ biết tận dụng những điều kiện thiên nhiên để mưu cầu cuộc sống.
Sách Đại Nam nhất c 10 thống chí viết về vùng đất này: “đất đều chua mặn, dân làm nghề đánh chài, đi buôn, mối lợi nhờ núi biển, hàng hoá thông Bắc - Nam. ở biển nhiều phù sa, ít ruộng lúa, có người vào rừng đốn củi, có người ra biển đánh cá” [43, tr. Do đời sống gắn liền với biển nên người dân nơi đây coi biển là nguồn sống, là ân nhân. Bởi vậy, trong tiềm thức của người dân, đặc biệt là người dân vùng biển, hình ảnh những vị thần liên quan đến biển luôn luôn tồn tại.
Tín ngưỡng thờ thần biển cũng vì đó mà hình thành và lưu truyền từ bao đời nay. Ngày nay, Quảng Ninh được biết đến là một tỉnh đa dạng về dân cư và thành phần dân tộc. Theo điều tra sơ bộ của cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2012, dân số toàn tỉnh Quảng Ninh đạt gần 1.200 người, mật độ dân số đạt 193 người/km². Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 620.200 người, dân số sống tại nông thôn đạt 557.
Quảng Ninh có 22 thành phần dân tộc, song chỉ có 6 dân tộc có hàng nghìn người trở lên, cư trú thành những cộng đồng và có ngôn ngữ, bản sắc dân tộc rõ nét. Ðó là các dân tộc Việt (Kinh), Dao, Tày, Sán Dìu, Sán Chỉ, Hoa. Trong các dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh, người Việt (Kinh) chiếm tỉ lệ lớn nhất, khoảng 89,23% tổng số dân, tiếp đến là người Dao, người Tày, người Sán Dìu. Nếu như người Việt tập trung chủ yếu ở các khu đô thị, các khu công nghiệp và vùng đồng bằng ven sông, ven biển thì các dân tộc ít người khác ở Quảng Ninh tập trung chủ yếu ở vùng núi thấp, sống bằng nông nghiệp với nghề trồng cấy lúa nước hoặc nghề trồng rừng.
Hiện nay, các dân tộc thiểu số - chủ nhân của miền núi, nơi có nhiều khó khăn, kinh tế và văn hoá còn chậm phát triển, đang được quan tâm về nhiều mặt và đời sống đã có những thay đổi rõ rệt. Họ hòa mình cùng với các dân tộc anh em trên địa bàn tỉnh. Đây là một trong những yếu tố tạo nên sự đa dạng, phong phú, độc đáo về đời sống văn hóa, xã hội tại các địa phương ở Quảng Ninh, tạo điều kiện cho con người nơi đây biết phát huy những thuận lợi cho sự phát triển, giao lưu, trao đổi kinh tế, văn hóa với các vùng trong nước và quốc tế. Khái quát điều kiện địa lí, dân cư các huyện ven biển, huyện đảo của Quảng Ninh 1.
Điều kiện địa lí Với đường bờ biển dài 250 km, toàn tỉnh Quảng Ninh có 14 huyện thị thì có đến 8 huyện thị thuộc vùng biển đảo. Bao gồm các thành phố Móng Cái, Hạ Long, Cẩm Phả, các huyện Yên Hưng, Hải Hà, Đầm Hà, Vân Đồn, Cô Tô; hai huyện có một phần giáp biển là Hoành Bồ và Tiên Yên. Nếu như Móng Cái, Hạ Long, Cẩm Phả được biết đến là trung tâm hành chính của tỉnh với sự phát triển vượt bậc về kinh tế, chính trị, với rất nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử nổi tiếng như Vịnh Hạ Long, Đền Cửa Ông, Đình Trà Cổ…thì huyện đảo Vân Đồn lại được biết đến với 600 hòn đảo đất, đá lớn nhỏ xen kẽ, với diện tích tự nhiên 59. Thiên nhiên đã ưu đãi cho vùng đất này “tiền rừng, bạc biển”.
Bởi vậy, ngay từ những năm đầu của thế kỉ XII, dưới thời nhà Lí, thương cảng Vân Đồn - thương cảng đầu tiên của Việt Nam đã được xây dựng, đánh dấu những hoạt động giao thương buôn bán tấp nập, sôi nổi. Trong số các huyện đảo ở Quảng Ninh, Cô Tô là một huyện đặc biệt sở hữu nhiều cái nhất: là huyện trẻ nhất (thành lập năm 1994), diện tích nhỏ nhất, dân số ít nhất, giữ vị trí quan trọng nhất về mặt kinh tế, chính trị.