CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VE QUAN HỆ GIỮA NOI LỰC VÀ NGOẠI LUC TRONG QUA TRÌNH XÂY DUNG CHỦ NGHĨA XÃ HOI Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm và kết cấu của nội lực Nội lực trong các mối quan hệ khác nhau được hiểu khác nhau. Ở đây, chúng ta xét khái niệm nội lực trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Có ý kiến cho rằng, nội lực của một dân tộc bao gồm sức mạnh tài chính, sức mạnh của nguồn lực con người, sức mạnh trí tuệ và sức mạnh của nhân tố lãnh đạo.
Có ý kiến khẳng định các yếu tố cầu thành nội lực gồm vốn, công nghệ và nguồn lực kinh doanh. Y kiến khác nhấn mạnh vai trò của nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực con người, nguồn vốn và nguồn lực khoa học công nghệ là các yêu tô tạo nên nội lực của một quôc gia. Tựu trung lại, có thể khẳng định nội lực là tổng thể các nguồn lực bên trong, quy định sự vận động và phát triển của quốc gia đó trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Nội lực bao gồm các yếu tố vật chất như điều kiện tự nhiên, tài nguyên khoáng sản, nguồn lực con người,.
các yếu tô tinh thần như tinh thần yêu nước, ý thức tự cường dân tộc. Nội lực bao gồm cả những yếu tố của quá khứ và hiện tại có thể huy động vào việc xây dựng và phát triển đất nước. Về nội lực, ở đây xin nêu một sé yếu tố cơ bản sau: Một là, nguồn lực tự nhiên. Nguồn lực tự nhiên như khí hau, đất đai, tài nguyên khoáng sản,.
của một quốc gia ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của quốc gia đó. Một đất nước có tài nguyên phong phú, đất đai, khí hậu thuận lợi thường có điều kiện phát triển hơn những quốc gia khác. Xét những yếu tố này, Việt Nam có những thuận lợi nhất định cho sự phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay. - VỊ trí địa lý: Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam châu Á, giáp biển Đông với diện tích 331 nghìn km’ đất liền và gần 1 triệu km” diện tích lãnh hải, được chia thành 63 tỉnh, thành phố theo 8 vùng kinh tế.
Phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp Lào và Campuchia, phía Nam và Đông giáp biển Đông với 3260 km đường bờ bién cùng hàng nghìn đảo lớn nhỏ với các quan đảo lớn như Hoàng Sa, Truong Sa, Bach Long Vi, Cát Bà, Ly Sơn, Côn Đảo, Phu Quốc. Vị trí địa lý của Việt Nam là một lợi thế địa - kinh tế, tạo điều kiện để phát triển đa dạng các ngành nghề từ nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và du lịch. Việt Nam có vùng lãnh hải rộng lớn chứa nguồn tài nguyên phong phú và đa dang từ hải sản, dau mỏ, muối,. Đặc biệt, Việt Nam có bờ biển kéo dài, có nhiều đảo và phong cảnh đẹp có lợi thế phát triển du lịch như Vịnh Hạ Long, Phú Quốc, Côn Đảo; ngoải ra còn có các cảng biến, các loại hình vận tải biển, các ngành công nghiệp đóng tàu, khai thác nguồn lợi từ đại dương như đánh bắt cá, tôm, khai thác dầu, muối,.
Việt Nam nằm trong khu vực có lợi thế về địa - chính trị chiến lược gần đường hàng hải quốc tế, giao lưu dé dàng với các hải cảng lớn và các nước trên thé giới. Nămở vi trí trung tâm vùng Đông Nam A - khu vực đang có tốc độ tăng trưởng cao, năng động nhất thế giới, thuận lợi giao lưu, hội nhập và tiếp thu nguồn lực từ bên ngoài như nguồn vốn, khoa học, công nghệ, kinh nghiệm quản lý và hàng hoá của Việt Nam xuất khâu đi khắp nơi trên thế ĐIỚI. Tuy nhiên, do nước ta có đường bờ biển dài nên trung bình hàng năm cũng phải hứng chịu nhiều cơn bão, có những cơn bão lớn gây thiệt hại không nhỏ cho ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và cả con người. Nhưng nhìn chung, nước ta ở vào vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế trong nước và tiếp thu văn hoá, quan hệ kinh tế với bên ngoài.
Van dé còn lại là chúng ta phải có kế hoạch khai thác hợp lý nguồn lực này, tránh khai thác lãng phí gây ô nhiễm môi trường làm cản trở sự phát trién đất nước. - Tài nguyên thiên nhiên: Tài nguyên thiên nhiên là các yếu tô của tự nhiên có thể tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất xã hội. Tài nguyên thiên nhiên Việt Nam tương đối phong phú hơn một sé nước trong khu vực, tạo lợi thế quan trọng dé phat triển. Tuy nhiên, tài nguyên thiên nhiên Việt Nam hau hết có quy mô không lớn và phân bố không đều giữa các vùng, nhiều tài nguyên ở dạng tiềm năng, khả năng khai thác khó khăn, đòi hỏi vốn đầu tư lớn.
+ Tài nguyên khoáng sản: Về mặt nhiên liệu, ta có than và dầu lửa. Đối với khu vực Đông Nam Á, trữ lượng than của ta có thể coi như đứng hàng đầu, còn đối với các bể than lớn trên thế giới thì còn nhỏ. Riêng khu vực Quảng Ninh, trữ lượng than thăm dò khoảng 3 tỷ tấn. Ngoài ra còn một số mỏ than khác như mỏ than Thái Nguyên, mỏ than Nông Sơn thuộc Quảng Nam - Đà Nẵng.
Nhưng tài nguyên 10 quý giá nhất về mặt nhiên liệu là dầu lửa và khí đốt đang đi vào quy trình khai thác hiện đại với nhiều triển vọng không nhỏ. Về kim loại, ta có nhiều mỏ khoáng sản với trữ lượng khá lớn như bôxit, crôm, thiếc, đồng, còn phần lớn là những mỏ nhỏ, rải rác khắp nơi. Ngoài ra, ở Việt Nam còn có măngøan, titan, chì, kẽm, vonfram, molybden, thuỷ ngân, ăngtimoan, vàng, bạc. Còn các mỏ phi kim loại ở nước ta phong phú và có nhiều giá trị sử dụng, quan trọng hơn cả các mỏ apatit, sét, vật liệu xây dựng.
Đặc biệt, ta có một số đá quý, vân đẹp, có thé mài mỏng dé làm ốp lát có giá trị xuất khâu cao. Như vậy, Việt Nam có nhiều mỏ khoáng sản có ích và được phân bố rộng khắp. Nhưng đa số các mỏ được thăm đò và khai thác cho đến nay chỉ là các mỏ nhỏ so với ở nhiều nơi trên thế giới. Trong tương lai, ta cần tích cực thăm dò trữ lượng chính xác và khai thác mạnh mẽ một số tài nguyên có giá trị lớn như dầu khí, bôxit, than, apatit, vật liệu xây dung,.
dé làm giàu cho Tổ quốc. Trước mắt, chúng ta cần khai thác hợp lý và tiết kiệm các mỏ hiện tại tránh lãng phí các loại tài nguyên không thé tái tạo này và có quy hoạch sử dụng các diện tích đã khai thác hết khoáng sản vào các mặt kinh tế có ích khác. + Tài nguyên khí hậu: Khí hậu và thời tiết là những điều kiện thiết yếu cho sản xuất và sinh hoạt. Nhưng coi khí hậu như một tài nguyên là một vẫn đề mới mẻ.
Không phải mọi yếu tố khí hậu đều được sử dụng trực tiếp dé sản xuất ra của cải vật chất. Tương đối rõ có thể ké là bức xạ mặt trời, gió và lượng mưa. Bức xạ mặt trời là nguồn gốc sản sinh ra vật chất hữu cơ nuôi sống con người. Vị trí nội chí tuyến của lãnh thổ nước ta đã tạo ra nguồn tài nguyên bức xạ đồi dào: “Tổng lượng bức xạ (tổng xạ) ở Việt Nam được từ 100 đến 130 kcal/cm”/năm” [28; 74].
Bức xạ mặt trời không những cần thiết cho sinh vật, mà còn cần thiết cho nhiều quá trình tự nhiên khác, va do đó giá tri sử dụng cũng rất đa dạng, mà hiện nay ta mới ứng dụng được rất ít. Trước mắt 11 nên đây mạnh việc sử dụng nhiệt năng của mặt trời vào trong sinh hoạt, tạo ra nguồn điện, năng lượng rẻ tiền sẵn có và không bao gid cạn ở mọi lúc, mọi nơi. Tuy nhiên, bức xạ mặt trời lớn cũng có mặt tiêu cực của nó. Vì quang hợp cần rất ít bức xạ, mà thực ra đến 90% bức xạ dùng dé làm bốc hơi nước.
Do đó, nếu thiếu nước thì mặt trời thiêu đốt tất cả và cảnh tượng hoang mạc sẽ diễn ra. Vì vậy, việc nghiên cứu bức xạ phải đi đôi với việc nghiên cứu lượng mưa và trong mỗi tương quan với lượng mưa. Ở Việt Nam, lượng mưa khá lớn, trung bình vào khoảng 1500 - 2000 mm. Ở các vùng núi cao chắn gió, lượng mưa còn có thể vượt quá 3000 mm, thậm chí 4000 mm.
Nước mưa là nguồn nước chính của sông ngòi và có thể được giữ lại dé trong trot va dung trong sinh hoat. Chế độ mưa ở Việt Nam là mưa theo mùa, cho nên thực ra vẫn có lúc thiếu nước, nhưng lại có lúc quá dư thừa. Mưa nhiều và mưa tập trung đễ xói mòn đất đai và gây úng lụt. Nhưng nếu chế ngự được trước hoặc rải đều ra trong năm, thì lượng nước dồi dao là nguồn tài nguyên quý giá, cần cho cả công nghiệp, nông nghiệp và nhu cầu sinh hoạt của nhân dân.
Biện pháp chính vẫn là xây dựng các hồ chứa, bố trí hợp lý ở khắp các vùng đồi núi. Việc thiết kế, xây dựng đô thị và nhà cửa của nhân dân cũng phải chú ý đến đặc điểm của lượng mưa và chế độ mưa dé vừa tận dụng được lượng mưa, vừa tránh được thiệt hại. Khác với mưa, gió là tài nguyên ít được sử dụng, trừ việc dé day cac thuyền buồm. Gió bắt đầu có ý nghĩa kinh tế khi vận tốc vượt quá 2m/giây.
Tuy nhiên, gió từ óm/giây (cấp 4) trở lên lại có hại, làm đồ cây cối, nhà cửa, hoa màu. + Tài nguyên nước: Tài nguyên nước bao gồm tài nguyên nước trên mặt và nước ngầm. Do các sông ngòi chảy qua lãnh thổ Việt Nam nhiều khi có phần thượng- trung lưu trên lãnh thé các nước láng giềng mà lượng nước trên dat nước ta rất phong phú so với diện tích: “Tổng lượng nước mặt được tạo ra trung bình hàng năm 12 hơn 880 tỷ m”” [38; 6] nhưng phân bố không đều trong không gian và thời gian. Do năm ở vùng cuối hạ lưu sông Mê Công, sông Hồng, sông Mã, sông Cả nên có tới “62,5% (xấp xi 570 tỷ m') từ lãnh thổ các quốc gia thượng lưu dé vào nước ta; lượng nước được tạo ra từ trong lãnh thổ Việt Nam chỉ khoảng 313 tỷ mỶ/năm (chiếm 37,5%).
Do vậy, khả năng đảm bảo có nước đầy đủ gặp khó khăn, đặc biệt là trong mùa khô lượng nước chỉ còn khoảng 15% - 30% mà thôi” [38; 6]. Vì thế, chúng ta cần có kế hoạch giữ nước, tránh tình trạng cạn kiệt nước trong mùa khô.