MỞ ĐẦU Môi trường tự nhiên ngày cảng có những ảnh hưởng xấu do ngành công nghiệp hóa học nói chung, công nghiệp hóa hữu cơ nói riêng. Trước những nguy cơ ô nhiễm môi trường này thì quan điểm “hóa học xanh” ngày càng được chú trọng. Phản ứng tổng hợp hữu cơ không những phải có hiệu suất cao ma còn phải tiết kiệm và thân thiện hơn với môi trường. Dùng xúc tác, đặc biệt là xúc tác dị thể là một trong những nguyên tắc thường xuyên được áp dụng trong hóa học xanh.
Việc sử dụng các hệ xúc tác dị thể hứa hẹn cải thiện khả năng tách và thu hồi xúc tác song cũng có khả năng làm giảm hoạt tính xúc tác. Hiện nay vật liệu MOFs đã và đang được quan tâm nhiều hon là do chúng có các cầu trúc da dạng, có đặc điểm cấu trúc xốp, diện tích bé mặt riêng lớn và những ứng dụng tiềm năng như làm chất xúc tác, chất hấp phụ và tách khí, trao đồi ion, từ tính, phát quang, công nghệ cảm biến và quang điện tử, dẫn truyền thuốc,. MOF VNU-20 là một loại MOF tâm sắt với độ xốp cao, tạo thành từ 2 loại cầu nối hữu cơ khác nhau. và chưa được ứng dụng rộng rãi trước đây.
Dẫn xuất coumarin với các nhóm thế benzylic hiện đang được các nhà khoa học trong nước và trên thế giới quan tâm, do chúng có tiềm năng về hoạt tính sinh học khá da dạng như tinh kháng viêm, kháng ung thư cũng như khang virus HIV. Chính vi vậy, trong luận văn này, chúng tôi sử dụng MOF VNU-20 tong hợp các dẫn xuất coumarin và khảo sát sự ảnh hưởng của các yếu tố nhiệt độ, xúc tác, chât oxi hóa, base đê tìm ra điều kiện tôi ưu nhât cho phản ứng. CHUONG I: TONG QUAN 1.1 TONG QUAN VE VAT LIEU KHUNG HỮU CƠ - KIM LOẠI 1.1 Vật liệu khung hữu cơ kim — kim loại Năm 1965, vật liệu lai hóa giữa vô cơ và hữu co đầu tiên được công bố bởi Tomic, chúng dựa trên các acid carboxylic thơm dùng tạo khung với các kim loại như Zn, Ni, Fe, Al, Ur [1]. Ké từ đó, vật liệu khung hữu cơ — kim loại (MOFs - metal organic frameworks) đã nhận được sự chú ý mạnh mẽ từ các nhà khoa học trên thế giới.
MOFs là vật liệu có câu trúc tinh thể, có diện tích bề mặt riêng lớn và lỗ xốp cao. Vật liệu này được xây dựng trên cơ sở khung hữu cơ - kim loại, do sự phối trí của các cầu nối hữu cơ va các ion kim loại trung tâm có khả năng liên kết đa chiều, nên khoảng không gian giữa mối liên kết kim loại và cầu nối hữu co tạo thành các 16 trống trong cau trúc [2]. Do đó, MOFs có khả năng cho phép các phân tử chất thâm nhập vào sâu bên trong, tinh chất này hứa hen sẽ mang đến nhiều ứng dụng sau này. Trong thời kỳ dau, zeolite xuất hiện dưới dạng là một vật liệu xốp nhôm silic.
Sau đó, những vật liệu được cầu tạo từ kim loại liên kết bang cầu nối hữu co ra đời [3]. ve ly thuyét, su da dang về các loại kim loại và sự vô tận của các cầu nối băng phân tử hữu cơ có thể dẫn đến một loạt các tính chất về câu trúc, từ tính, điện, quang hay hoạt tính cho loại vật liệu này. Vì thế vật liệu khung cơ kim trở thành một trong những loại vật liệu tiềm năng. Vật liệu khung hữu cơ — kim loại hay còn được biết đến là vật liệu tinh thé polymer đa chiều hoặc là mạng lưới kim loại hữu cơ kết hợp.
Có 3 đặc điểm cần phải có ở một loại vật liệu để nó có thể xem là vật liệu khung hữu cơ — kim loại: các liên kết đủ mạnh để tạo nên độ bên cho khung, bộ phận liên kết có thê được điều chỉnh bang các các phan ứng tong hợp hữu cơ và các thông số cau trúc mạng có kha năng được xác định [4]. Cau trúc của khung cơ kim có thé được dự đoán thông qua tính chất hình học và hóa học của các đơn vị cấu trúc thứ cấp và các cầu nối. Vật liệu khung hữu cơ — kim loại gồm có các phân tử hữu cơ, ion kim loại và ion âm là các đơn vị cau tao so cấp, tuy nhiên việc sử dụng các thành phân này để giải thích cau trúc của khung gặp nhiều khó khăn. Vì thé, đơn vị cấu trúc thứ cấp (secondary building unit, SBU) được sử dụng để giải thích, khái niệm này được áp dụng từ việc phân tích cau trúc của zeolite [5].
SBU là những phân tử phức chất và sự tụ hợp lại của 2 những thực thể này, trong đó những kiểu kết hợp của ligand và kim loại có được sử dụng dé kết hợp các phân tử nay thành một mạng lưới xốp bang cách sử dụng nhiều kiểu liên kết (1,4- benzenedicarboxylate, 1,3,5,7- adamantanetetracarboxylate. Các SBU lại được nối với nhau thông qua các các cầu nối hữu cơ dé hình thành cấu trúc ba chiều có trật tự nghiêm ngặt trong không gian.1: Một số SBU sử dụng trong tong hop MOFs [6]. Mặc dù về lý thuyết, số lượng các phân tử hữu cơ là vô hạn, tuy nhiên chỉ một số phân tử nhất định mới có thé cầu tạo nên MOF. Việc tạo ra kích thước của các SBU ảnh hưởng một cách trực tiếp đến việc tạo cho cau trúc MOFs có độ xốp và độ cứng tối ưu, bao gồm cả việc dự đoán vi trí các kim loại mở bên trong lỗ xốp của chúng [7].
Các MOFs được tạo nên từ các SBU khác nhau sẽ có hình dạng va cau trúc khác nhau. Bên cạnh đó điều kiện tổng hợp như dung môi, nhiệt độ, ligand cũng ảnh hưởng tới cau trúc hình học của MOEs. Các muối kim loại thường được dung là các muỗi kim loại chuyển tiếp như Cu, Co, Zn, Mn, Fe. Và các ligand dùng để tổng hợp thường dùng là các acid carboxylic như oxalic acid, H;BDC, H3BTC,.
Bên cạnh đó, các ligand di vòng có chứa các nguyên tô như O, S, N cũng được dùng làm câu nôi hữu cơ. B COOH COOH COOH COOH COOH "Âm Am COOH a a a or Ó ors xX HgBTE (X = C=C) Oxalic acid Fumaric HạBDC HạBDC-X H4DOT HạBDC-(X); HaBTC HaBBC (X = CeHa) acid (X = Br, OH, (X = Me, Cl, éì NOa, and NH) COOH, OCaH;, x x and OG7Hy) woke "hese wooedf coo HOgS SOaH N^m ¬ S$ He HOOC COOH H HO SashH Hooc ‘COOH DW / ⁄ GM cả H a QS HgATC HaTHBTS HaImDC HaBTP DTOA HaBTB (X = CH) o HaTATB (X = N) HOOC COOH @ coon wÑ _. COOH H4ADB “3 OH COOH COOH HạBTETCA xã =. X X COOH 4 fe HOOC ‘COOH Hồ, < Cc) HeTPBTM (X = CONH) 2 ` HạBTEI (X = C=C) sh | te “ HẹBTPI (X = CeHa) 2v † HạBHEI (X = C=C-C=C) Hồi HỒ) HạBT TI (X = (CaHa)2).
HạPTEI (X = CeHa-C=C) @ lô HeT TEI (X = C=C-CgHy-C=C) OOH P9 Tên HgBNETPI (X = C=C-CeHa-C=C-C=C) HgBHEHPI (X = (CeHa-C=C)¿) BPP34C10DA Ir(HạDPBPyDC)(PPy)z+ HaDH9PhDC HaDH11PhDC Hình 1.2: Một số ligand sử dung trong tong hợp MOFs [8].2 Ứng dụng của vật liệu MOFs ZTF-1 for high CO; PCN-12 for high H; - “é MOF-200 x MIL-101(Cr) xe for high H2, CO, ® 8 HKUST-1 for high CO,,CO CH, MOF-74 (Mg, Ni, Co) V” for high CO; NO CH, MOF-5 Bio-MOF-11 for high H; for high CO, Hinh 1.3 Ung dung cua MOFs trong hap thu khi [15] MOF là vat liệu có diện tích bê mặt riêng cũng như độ xôp cao hon Carbon hoạt tinh va zeolite. Đặc điểm nay vật liệu khung hữu cơ — kim loại đã được nghiên cứu trong rất nhiều ứng dụng như trữ khí như H; [9, 10], CH¿ [11] và COz [12], xúc tac hóa học [13. Ngoài những tiềm năng ứng dụng thường thấy trong các vật liệu vi xốp truyền thống như trên, MOFs còn có thé sử dụng làm các cảm biến hóa học nhờ vào những tinh chất đặc biệt, trong một số trường hợp là tính chất độc nhất, như tính phát quang, khả năng truyén tín hiệu, truyền điện tích và có độ bền nhiệt nhất định (bên hơn nhiều loại polyme hữu co) [16-18]. MOFs còn được ứng dụng làm chất trao đối ion, làm thiết bi phan ứng [19].
Ngoài những đặc điểm như da dạng về thành phan hóa học (có thé dễ dang thay đôi kim loại hoặc cầu nối hữu cơ) cũng như về cấu trúc (nhiều dạng hình học khác nhau. đường kính lỗ xốp phân bồ rộng, từ vi xốp đến lỗ xốp trung bình), một số MOFs còn có những tính chất phù hợp với y sinh như không độc, có khả năng phân hủy sinh học nên được ứng dụng trong dẫn truyền thuốc [20].3 MOF trong xúc tác dị thé Hiện nay, tổng hợp hữu cơ dựa trên các nguuyên tắc của “hóa học xanh” luôn được ưu tiên hang đầu. Do đó, xúc tác dị thé có thé thé hiện sự nỗi bật nhờ vào kha năng tái sử dụng xúc tác. Trong suốt quá trình phát triển, MOF chứng tỏ nó là một loại xúc tác 5 dị thé tiềm năng khi thỏa mãn những yêu cầu cho một loại xúc tác di thể.
Nhìn chung, MOF có thé trở thành xúc tác hóa học nhờ vào một số con đường như nhờ vào tâm kim loại, nhờ vào các thành phần xúc tác khác đính trên khung hay các nhóm chức hữu cơ trên cầu nối hoặc là nhờ vào đặc tính lỗ xốp của khung [14]. Vật liệu MOFs có diện tích bề mặt riêng và thé tích lỗ xốp lớn, đây là hai tính chat quan trọng của một chất xúc tác di thé. Ngoài ra vật liệu MOFs có hàm lượng tâm kim loại trong cấu trúc cao hon so với các xúc tác ran truyền thông khác như zeolite hay silica. Không những vậy, các tâm kim loại trong vật liệu MOFs được cố định bang cac liên kết hóa hoc tương đối mạnh trong mạng tinh thé theo ba chiều trong không gian nên rất khó bị tách ra khỏi mạng tinh thé, điều này rất có ý nghĩa trong việc tinh chế sản phẩm, cũng như tách và thu hồi xúc tác.
Một trong những ưu điểm trong việc sử dụng MOFs làm xúc tác dị thé là điện tích bề mặt riêng lớn của vật liệu MOEs, khắc phục đáng ké nhược điểm về mặt truyền khối so với các xúc tác dị thé truyền thông khác [21]. Hơn nữa, tâm kim loại và nhóm chức trên các cầu nối hữu cơ có khả năng điều chỉnh linh hoạt để phù hợp với các mục đích sử dụng khác nhau trong xúc tác [22].4 Các đặc tính mang lại hoạt tính xúc tác cho MOF a.