Chương 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 1. Các vấn đề lý luận về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ 1. Khái niệm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo luật hình sự Việt Nam. Khái niệm tội phạm được quy định tại Điều 8 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”.[23, Tr 11] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự, thì tội phạm được phân thành 04 loại: 11 Tôi phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Khái niệm của các loại tội phạm cụ thể được quy định trong các điều luật phần các tội phạm cụ thể bằng cách mô tả các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội phạm. Tuy nhiên, dù khái niềm chung về tội phạm hay khái niệm về các loại tội phạm cụ thể thì dấu hiệu cơ bản, quan trọng nhất của cấu thành tội phạm là tính nguy hiểm cho xã hội và tính có lỗi. Khái niệm nêu trên nó cũng bao hàm chứa dấu hiệu của tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Có quan điểm cho rằng: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác”.
Quan điểm này chỉ mới nêu định nghĩa, chưa làm rõ khái niệm tội vi phạm vi quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Quan điểm khác lại cho rằng: “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là hành vi của người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ sau đó gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây thiệt hại cho tính mạng người khác”. Quan điểm này cụ thể hơn về hành vi phạm tội, bao quát được tính nguy hiểm của hành vi, nêu lên được khách thể bị xâm hại và chủ thể vi phạm. Tuy nhiên vẫn còn thiếu dấu hiệu chủ thể của tội phạm.
Trên cơ sở tham khảo các quan điểm trên, ta có thể đưa ra khái niệm về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như sau: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đương bộ là những hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật hình sự, do người không ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách vô ý gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác. Các dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong Bộ luật hình sự Việt Nam. Từ khái niệm về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, để xem xét và xác định hành vi nào là hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ cần phải xử lý theo pháp luật hình sự thì cần phải xem xét các dấu hiệu pháp lý của tội phạm này. Các dấu hiệu cụ thể của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, bao gồm: 1.
Hành vi nguy hiểm cho xã hội: Hành vi của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trước hết phải là hành vi vi phạm an toàn giao thông đường bộ. Hành vi đó xâm hại đến các khách thể được Bộ luật hình sự bảo vệ. Các thiệt hại do hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ gây ra bao gồm: tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác. Vì vậy, trường hợp vi phạm các quy định về tham gia giao thông thông đường bộ gây thiệt hại cho chính bản thân người vi phạm mà không gây thiệt hại cho tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác, thì không bị coi là tội phạm.
Hành vi phạm tội xâm phạm đến an toàn giao thông đường bộ theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, bao gồm hành vi phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ dưới dạng hành động. Các hành vi này được viện dẫn đến Luật giao thông đường bộ. Khi kết tội đối với một người về tội phạm này, người có thẩm quyền kết tội phải nêu rõ quy định nào của Luật giao thông đường bộ và các quy định về an toàn giao thông khác bị vi phạm. Hành vi vi phạm phải được Bộ luật hình sự quy định.
Theo quy định tại Điều 2 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” [23, tr6]. Do đó, chỉ người nào phạm tội danh được quy định trong Bộ luật hình sự mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Nếu hành vi chủ 13 thể không cấu thành tội được quy định trong Bộ luật hình sự thì không bị coi là tội phạm và không phải chịu hình phạt trong Bộ luật hình sự. Do người không ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện.
Người không ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là người đạt độ tuổi do pháp luật hình sự quy định, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này” [23, tr 13]. Theo quy định tại Điều 21 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định tình trạng không có năng lực chịu trách nhiệm hình sự: “Người thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì không phải chịu trách nhiệm hình sự” [23, tr 17].
Như vậy, người phạm tội do dùng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì họ không phải là người ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (không có bệnh). Điều 13 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định: “Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự” [23, tr 13]. Thậm chí, khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự còn quy định phạm tội “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy 14 hoặc chất kích thích mạnh khác” là tình tiết định khung hình phạt đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Tính có lỗi của tội phạm.
Lỗi là trạng thái tâm lý của người thực hiện tội phạm đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà mình thực hiện và hậu quả cho xã hội do hành vi đó gây ra. Lỗi của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được thể hiện dưới hình thức vô ý: vô ý vì tự tin và vô ý vì cẩu thả. Vô ý vì tự tin: là người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được. Vô ý vì cẩu thả: là người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.
Tính phải chịu hình phạt của tội phạm. Theo Điều 30 BLHS 2015 thì: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật hình sự, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó” [23, tr 21], và “mục đích của hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm” [23, tr 21]. Theo quy định tại Điều 32 BLHS thì hình phạt bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung. “Hình phạt chính bao gồm: cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; trục xuất; tù có thời hạn; tù chung thân và tử hình.
Hình phạt bổ sung bao gồm: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài 15 sản; phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính; trục xuất khi không áp dụng là hình phạt chính.