Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC CHO HỌC SINH 1. Tổng quan lịch sử các vấn đề nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu về năng lực và năng lực vận dụng kiến thức [11, tr. 10-13] Vào những thập niên cuối của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI, trên thế giới đã có nhiều biến đổi sâu sắc về khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo, kinh tế - xã hội.
Sự tiến bộ của khoa học – kỹ thuật ngày càng cao dẫn đến sự mở rộng, phong phú về nội dung và PP hoạt động lao động của con người. Trình độ phát triển ngày càng cao của khoa học, kỹ thuật, công nghệ như một đòi hỏi khách quan về trí tuệ, năng lực của người lao động. Sự phân hóa và chuyên môn hóa khoa học, kỹ thuật, công nghệ ở mức cao đã đặt ra cho khoa học Giáo dục - đào tạo nhiệm vụ phải nghiên cứu và tìm ra những giải pháp để nâng cao trình độ và chất lượng nguồn nhân lực. Về vấn đề nghiên cứu năng lực Vấn đề năng lực là vấn đề của loài người, được nghiên cứu từ khá sớm, bởi nhu cầu muốn hiểu biết, cải tạo thế giới và hiểu biết về chính bản thân mình.
Năng lực con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học như triết học, tâm lý học, xã hội học, sinh lý học, lý luận dạy học. Cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về năng lực. Thuật ngữ ‘‘năng lực’’ theo tiếng Anh ‘‘competency’’ có nghĩa là năng lực hay khả năng. Một số nhà khoa học phương Tây đã có những quan niệm khác nhau về năng lực.
Theo quan điểm di truyền học, trường phái A.Simson cho rằng: năng lực phụ thuộc vào tính bẩm sinh, di truyền của gen. Theo quan điểm xã hội học, E.Durkhiem (1858-1917) cho rằng: năng lực, nhân cách con người được quyết định bởi xã hội, như một môi trường bất biến, tách khỏi điều kiện chính trị. Trường phái tâm lý học hành vi J.Watson (1870-1958) quan niệm năng lực con người là sự thích nghi ‘‘sinh vật’’ với điều kiện sống. Các nhà tâm lý học Mác-xít nghiên cứu năng lực theo quan điểm hoạt động, trong sự tương tác của con người với môi trường xã hội và điều kiện sống.
Năng lực 5 c có liên quan chặt chẽ với quá trình lao động cá nhân và lao động lịch sự xã hội.Ăngghen cho rằng: ‘‘Lao động đã sáng tạo ra con người’’. Các-Mác đã chỉ rõ: ‘‘Sự khác nhau về tài năng tự nhiên của các cá nhân không phải là nguyên nhân mà là kết quả của sự phân công lao động’’. Năng lực được hình thành, phát triển trong quá trình hoạt động – đó là quan điểm mang tính nguyên tắc và là cơ sở để nghiên cứu năng lực. Trong những năm qua, các nhà tâm lý học, giáo dục học, xã hội học đã và đang tiếp tục nghiên cứu, phát triển các quan niệm tiến bộ về năng lực.
Vưgôtxki cho rằng: ‘‘…Lịch sử phát triển văn hóa của đứa trẻ đưa chúng ta đến lịch sử phát triển nhân cách’’. Năng lực ở đây được quan niệm là một thuộc tính của nhân cách. Chêplôp, quan niệm năng lực là phẩm chất của nhân cách. Năng lực có quan hệ chặt chẽ với hoạt động, được hình thành trong hoạt động, thể hiện ra trong hoạt động, được đánh giá qua hành động.
Bản chất của năng lực thể hiện trên ba dấu hiệu cơ bản nhất: (1) Năng lực là những sự khác biệt tâm lý cá nhân, làm cho người này khác người kia; (2) Năng lực không phải thể hiện sự chung chung mà xác định cụ thể qua kết quả của một hành động nào đó; (3) Năng lực không liên quan gì đến những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo đã được hình thành ở một người nào đó, mà được xem như là một yếu tố di truyền nhất định. Các luận điểm trên về năng lực sẽ được nghiên cứu vận dụng, phát triển. Riêng về điểm thứ (3) này thì không đúng, bởi lẽ: nhận thức duy vật biện chứng về năng lực đã xác định năng lực mang tính lịch sử cụ thể và lao động xã hội. Năng lực có liên quan chặt chẽ với quá trình lao động cá nhân và lao động lịch sử xã hội, đồng thời được hình thành nhờ quá trình lao động.
Những nghiên cứu về năng lực của A. Côvaliôp, đã đi sâu phân tích cấu trúc năng lực. Theo đó cấu trúc năng lực gồm ba nhóm thuộc tính: (1) Thuộc tính chủ đạo; (2) Thuộc tính cơ sở làm chỗ dựa; (3) Thuộc tính hỗ trợ làm nền. Ba thành phần này gắn kết chặt chẽ với nhau, liên kết và tương tác với nhau, có vai trò không bình đẳng với nhau.
Việc xác định cấu trúc ba thành phần như trên đã có ý nghĩa to lớn, là cơ sở cho những nghiên cứu tiếp sau, đó cũng là luận điểm quan trọng được nghiên cứu này kế thừa, phát triển. Lâytex, đã có những nghiên cứu chuyên sâu về năng lực trí tuệ ở lứa tuổi trẻ em, trong đó hoạt động học tập các môn khoa học, công nghệ, ngoại khóa và lao động kỹ thuật. Các vấn đề được đề cập đến như: đặc điểm lứa tuổi và sự phát triển 6 c năng lực; trẻ em phát triển năng lực sớm; sự khác biệt cá nhân; sự say mê lao động và nhu cầu hoạt động; khả năng dự đoán sự phát triển năng lực. Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học đề cập đến năng lực như: A.
Lêônchiép, Platônốp, Kovaliốp, D. Bùi Văn Huệ cho rằng: ‘‘Năng lực là tổ hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả tốt’’. Ruđich định nghĩa: ‘‘Năng lực đó là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu các kiến thức, kỹ năng, và kỹ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định’’. Phạm Minh Hạc, quan niệm: ‘‘Năng lực là các đặc điểm tâm lý ở người, tạo điều kiện quy định tốc độ, chiều sâu, cường độ của việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo’’.
Tác giả nhấn mạnh: ‘‘Chính năng lực là một yếu tố tổ thành trong một hoạt động cụ thể, chứ không phải là sự tương ứng hay phù hợp giữa một bên là yêu cầu của một hoạt động và một bên là tổ hợp thuộc tính cá nhân’’. Ở đây có sự đồng nhất quan điểm của Phạm Minh Hạc và P. Ruđich, đó cũng là luận điểm được nghiên cứu này quan tâm, kế thừa, phát triển. Còn một số quan niệm về năng lực được trình bày trong một số từ điển, nhưng đều nghiêng về việc giải thích thuật ngữ, chưa phản ánh hết bản chất.
Thống nhất các quan niệm về bản chất năng lực dẫn đến kết luận: Năng lực là tổ hợp những thuộc tính tâm lý, sinh lý của cá nhân; được hình thành trong hoạt động, biểu hiện bằng hoạt động, được đánh giá qua hành động; chi phối chất lượng và hiệu quả của hoạt động. Về vấn đề nghiên cứu năng lực vận dụng kiến thức [19, tr. 64-66] Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực (định hướng phát triển năng lực) nay còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ 20 và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế. Giáo dục định hướng phát triển năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học.
Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng 7 c lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp. Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức. Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là ‘‘sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học. Việc quản lý chất lượng dạy học chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả học tập của HS.
Chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực không quy định những nội dung dạy học chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình giáo dục, trên cở sở đó đưa ra những hướng dẫn chung về việc lựa chọn nội dung, PP, tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học tức là đạt được kết quả đầu ra mong muốn. Trong chương trình định hướng phát triển năng lực, mục tiêu học tập, tức là kết quả học tập mong muốn thường được mô tả thông qua hệ thống các năng lực. Kết quả học tập mong muốn được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được. HS cần đạt được những kết quả yêu cầu đã quy định trong chương trình.
Việc đưa ra các chuẩn đào tạo cũng là nhằm đảm bảo quản lý chất lượng giáo dục theo định hướng kết quả đầu ra. Ưu điểm của chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực là tạo điều kiện quản lý chất lượng theo kết quả đầu ra đã quy định, nhấn mạnh năng lực vận dụng của HS. Tuy nhiên nếu vận dụng một cách thiên lệch, không chú ý đầy đủ đến nội dung dạy học thì có thể dẫn đến các lỗ hổng tri thức cơ bản và tính hệ thống của tri thức. Ngoài ra chất lượng giáo dục không chỉ thể hiện ở kết quả đầu ra mà còn phụ thuộc quá trình thực hiện.
Hai bức tranh biếm hoạ sau đây phê phán văn hoá dạy học truyền thống ‘‘nhồi nhét ” kiến thức cho HS và khuyến khích một văn hoá dạy học mới, phát triển năng lực và sự sáng tạo cho người học. Học là ‘‘nhồi nhét’’ kiến thức Hình 1. Học để phát triển năng lực 8 c Bảng 1. So sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng nội dung và chương trình định hướng phát triển năng lực Chương trình định hướng Chương trình định hướng nội dung phát triển năng lực Mục Mục tiêu dạy học được mô tả Kết quả học tập cần đạt được mô tả tiêu không chi tiết và không nhất chi tiết và có thể quan sát, đánh giá giáo dục thiết phải quan sát, đánh giá được; thể hiện được mức độ tiến bộ được.
của HS một cách liên tục.