mở đầu cho hàng loạt các cuộc khủng hoảng nợ tại các nước đang phát triển vào những năm 1980. Sau đó là đến cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997- 1998 và gần đây nhất là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008. Đã có rất nhiều nhà kinh tế học nghiên cứu, phát triển và hoàn thiện các học thuyết kinh tếđể có thể vận dụng hiệu quả hơn cho việc điều hành chính sách kinh tế vĩ mô của các nước trên thế giới. Một trong những lý thuyết phổ biến là bộ ba bất khả thi trong kinh tế học và đã có rất nhiều các nghiên cứu liên quan đến vấn đề này để có thể tìm hiểu, phân tích và đánh giá rõ hơn tình hình kinh tế tài chính của các quốc gia trên thế giới.
Các nghiên cứu về sự phát triển lý thuyết bộ ba bất khả thi Đầu tiên là Robert Mundell và Marcus Fleming (1963) đã xây dựng nên mô hình Mundell-Fleming, đó là sự mở rộng của nền tảng lý thuyết IS-LM khi có tính đến tác động của cán cân thanh toán. Mô hình Mundell-Fleming đã đặt nền tảng cho lý thuyết bộ ba bất khả khi cho rằng với việc giả định nguồn vốn được chu chuyển hoàn hảo, chính sách tài khóa phát huy hiệu quả cao trong cơ chế tỷ giá cố định và chính sách tiền tệ có tác dụng mạnh dưới chế độ tỷ giá thả nổi. Điều này có thể hiểu rằng nếu chu chuyển vốn là hoàn hảo thì chính sách tiền tệ hoàn toàn không có hiệu lực nếu chính phủ theo đuổi mục tiêu ổn định tỷ giá nhưng sẽ có hiệu lực cao nếu chính phủ thả nổi tỷ giá. Trong khi nghiên cứu tác động của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ đối với việc gia tăng sản lượng quốc gia trong mô hình IS-LM, Jame Meade (1951) và Jan Tinbergen (1952) đã cố gắng để đưa các yếu tố nước ngoài vào mô hình này nhưng vẫn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 chưa thể trở thành một mô lý thuyết vững chắc.
Dựa vào lý thuyết này, các nhà kinh tế học như Krugman (1979) và Frankel (1999) đã phát triển lên thành lý thuyết bộ ba bất khả thi. Lý thuyết bộ ba bất khả thi được phát biểu như một định đề: một quốc gia không thể đồng thời đạt được cùng lúc ổn định tỷ giá, hội nhập tài chính và độc lập tiền tệ. Bất kỳ cặp mục tiêu nào cũng có thể đạt được bằng một chế độ tỷ giá tương ứng nhưng phải từ bỏ mục tiêu chính sách còn lại. Từ đó, bộ ba bất khả thi đã trở thành lý thuyết rất phổ biến trong kinh tế học, và minh họa như sau: Nguồn: Sách Tài Chính Quốc Tế (2011) Hình 2.1: Tam giác bộ ba bất khả thi Mỗi cạnh của tam giác lần lượt thể hiện độc lập tiền tệ, ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính.
Đỉnh trên cùng của tam giác được gọi là “thị trường vốn đóng” đó là sự kết hợp của độc lập tiền tệ hoàn toàn và tỷ giá hối đoái cố định nhưng đổi lại phải đóng cửa thị trường tài chính, đó là lựa chọn ưa thích của các quốc gia đang phát triển trong nữa cuối những năm 1980. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Toàn cầu hóa đang trở thành xu hướng chung của thế giới, vì thế trong suốt hơn 20 năm qua, hầu hết các nước đang phát triển ngày càng gia tăng mức độ hội nhập tài chính. Điều này có nghĩa là một quốc gia hoặc phải từ bỏ sự ổn định tỷ giá nếu muốn duy trì mức độ độc lập tiền tệ, hoặc phải từ bỏ độc lập tiền tệ nếu muốn duy trì ổn định tỷ giá. Tuy nhiên, Frankel (1999) cũng cho rằng một quốc gia vẫn có thể lựa chọn cơ chế tỷ giá bán ổn định và chính sách tiền tệ bán độc lập.
Và lý thuyết bộ ba bất khả thi không thể ngăn cản một quốc gia theo đuổi cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý, tỷ giá cố định có thể điều chỉnh hay bất cứ tỷ giá trung gian nào. Bên cạnh đó, không có bất kỳ một chế độ tiền tệ nào là tốt nhất cho tất cả các quốc gia và ngay cả trong chính quốc gia đó cũng không có một chính sách tiền tệ duy nhất nào phù hợp cho mọi thời kỳ. Một quốc gia có thể có những phối hợp các mục tiêu chính sách khác nhau mà không phải bắt buộc chấp nhận sự đánh đổi hoàn toàn như trong tam giác của bộ ba bất khả thi kinh điển mà có thể lựa chọn để thực hiện một cơ chế trung gian của ba mục tiêu chính sách. Yigang và Tangxian (2001) tiếp tục phát triển lý thuyết bộ ba bất khả thi của Mundell- Fleming và đưa lên thành thuyết tam giác mở rộng.
Nền tảng của thuyết này là những quan niệm mới về độc lập trong chính sách và ổn định tỷ giá. Bộ ba bất khả thi của Mundell-Fleming cho rằng một quốc gia không thể có một chính sách tỷ giá bán ổn định và chính sách tiền tệ bán độc lập. Tam giác bất khả thi này chỉ tập trung đến các cơ chế tỷ giá nằm ở các đỉnh của tam giác mà chưa đề cập đến một cơ chế trung gian nằm đâu đó trong tam giác bất khả thi. Yigang và Tangxian (2001) đã mở rộng mô hình này và đưa ra kết luận rằng một quốc gia có thể có những phối hợp mục tiêu khác nhau và không bắt buộc phải chấp nhận sự đánh đổi hoàn toàn như tam giác bất khả thi của Mundell-Fleming.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các nghiên cứu về phương pháp đo lường chỉ số bộ ba bất khả thi Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm về đo lường các chỉ số của bộ ba bất khả thi. Việc đo lường tính ổn định của tỷ giá hối đoái và độ mở tài chính khá dễ dàng. Tuy nhiên, việc đo lường tính độc lập của chính sách tiền tệ gặp nhiều khó khăn hơn.
Nhiều nghiên cứu đo lường tính ổn định của tỷ giá hối đoái bằng cách sử dụng độ lệch tiêu chuẩn của biến động tỷ giá hối đoái của quốc gia chủ nhà và quốc gia cơ sở. Giống nhiều nghiên cứu khác, Aizenman, Chinn và Ito (2008) đã đo lường tính ổn định của tỷ giá hối đoái hàng năm bằng cách sử dụng độ lệch chuẩn hàng tháng của tỷ giá hối đoái dựa trên quốc gia cơ sở. Aizenman và các cộng sự cũng đã áp dụng phương pháp độ lệch tiêu chuẩn để đo sự ổn định của các đồng tiền của các quốc gia nằm trong dải băng hẹp. Các quốc gia cơ sở bao gồm Úc, Bỉ, Pháp, Đức, Ấn Độ, Malaysia, Nam Phi, Anh và Mỹ.
Đo lường độ mở tài chính KAOPEN đầu tiên là dựa trên các biến nhị phân trong Báo cáo thường niên về Cơ chế tỷ giá và các hạn chế tỷ giá ngoại hối (AREAER) của IMF. Quinn (1997, 2003) đã biên soạn một thước đo tổng hợp của các quy định tài chính, chúng có giá trị từ 0 đến 14, đại diện cho các chế độ mở cửa từ ít nhất đến nhiều nhất. Phần lớn các chỉ số này dựa trên những thông tin định tính được mã hóa trong AREAER liên quan đến hạn chế về giao dịch tài khoản vốn và tài khoản vãng lai, cộng thêm thông tin về việc liệu các nước đó đã ký thỏa thuận quốc tế với các tổ chức quốc tế như OECD hay Liên minh châu Âu. Mặc dù vậy dữ liệu về giá trị của chỉ số Quinn không được công bố công khai.
Johnston và Tamirisa (1998) tạo ra các chuỗi thời gian của sự kiểm soát vốn dựa trên các thành phần tách biệt trong AREAER. Tuy nhiên, chuỗi dữ liệu của họ không đủ dài, nó chỉ bao gồm các năm sau năm 1996. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Gần đây nhất, Miniane (2004) xây dựng một tập hợp các chỉ số để đo cường độ của kiểm soát vốn, dựa trên cách tiếp cận tương tự như Johnston và các cộng sự nhưng ngoại suy dữ liệu trở lại tới năm 1983 cho 34 quốc gia. Phương pháp này cũng từng được Aizenman và đồng sự (2004) sử dụng và đã cung cấp một chỉ số đo độ mở tài chính tốt hơn so với dữ liệu của IMF, tuy nhiên dữ liệu của Miniane chỉ có 30 quốc gia.
Nhiều nghiên cứu đã sử dụng phương pháp đo lường của Chinn và Ito (2006, 2008) để tính toán cho các chỉ số của bộ ba bất khả thi. Chinn và Ito còn đo lường độ mở tài chính theo các chỉ số của IMF về các giới hạn tiền tệ, giao dịch tài khoản vốn, tỷ giá hối đoái đa phương, chứng từ cần thiết cho tiến trình xuất khẩu. Độ mở tài chính là trung bình có trọng số của các chỉ số hạn chế trao đổi của IMF. “A New Measure of Financial Openness” năm 2008 của Menzie D.
Chinn và Hiro Ito đã tạo ra chỉ số mới để đo lường sự hội nhập tài chính có khả năng dễ cập nhật, được thiết lập công khai, có phạm vi thu thập được ở nhiều quốc qua với chuỗi thời gian dài. Hai ông còn muốn tính toán cho thật nhiều quốc gia và nhiều năm miễn là chúng có sẵn trong AREAER, các dữ liệu có sẵn cho 182 quốc gia trong giai đoạn 1970 - 2010. Nhiều nghiên cứu sau đó cũng đã phát triển chỉ số này. Một cách thay thế khác là sử dụng tài khoản vốn làm công cụ đo lường độ mở tài chính.
Tuy nhiên, tài khoản vốn thường biến động qua thời gian và được cho là quá biến động để đại diện cho sự thay đổi trong chính sách. Đối với phương pháp đo lường tính độc lập của chính sách tiền tệ, Rose (1996) đề xuất đo lường độc lập tiền tệ bằng cách xem phản ứng của tỷ giá đối với sự thay đổi của sản lượng, lãi suất và cung tiền. Tuy nhiên đối với phương pháp này khó có thể phân biệt được trong thực tế đâu là cú sốc cung, đâu là cú sốc cầu của tiền tệ, đó là chưa kể đến việc phải giả định tốc độ lưu thong tiền tệ là không đổi.Taylor (2005) đề xuất cách tiếp cận khác để đo lường độc lập tiền tệ bằng cách không dựa trên số lượng mà dựa trên lãi suất danh nghĩa ngắn hạn. Phương pháp này TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 gây nhiều tranh luận về việc chủ yếu vào trực giác khi cho rằng việc điều hành chính tiền tệ dựa mức lãi suất mục tiêu hơn là dựa trên số lượng tiền tệ.
Tương tự, Aizenman, Chinn và Ito (2008) cũng đo lường tính độc lập của chính sách tiền tệ của một quốc gia bằng cách sử dụng mối tương quan giữa lãi suất của quốc gia đó và quốc gia cơ sở.