CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1. Một số vấn đề lý luận về thuế thu nhập cá nhân 1. Khái niệm về thuế thu nhập cá nhân "Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế trực thu đánh trên thu nhập nhận được của các cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) hoặc theo từng lần phát sinh".TS Nguyễn Thị Liên và PGS.TS Nguyễn Văn Hiệu, 2008, Giáo trình thuế. Hà Nội: Nhà xuất bản Tài Chính).
Thuế thu nhập cá nhân là một sắc thuế có tầm quan trọng lớn trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước và thực hiện công bằng xã hội. Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân - Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu, đánh vào thu nhập chính đáng của người nộp thuế. Do là thuế trực thu nên nó phản ánh sự đồng nhất giữa người nộp thuế và người chịu thuế, vì vậy người chịu thuế thu nhập cá nhân khó có thể chuyển dịch gánh nặng thuế sang cho người khác. - Thuế thu nhập cá nhân có diện đánh thuế rộng, tất cả các cá nhân có thu nhập chịu thuế, không phân biệt thu nhập đó có nguồn gốc phát sinh trong nước hay ở nước ngoài, bao gồm: công dân nước sở tại và người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên nhưng có số ngày có mặt, làm việc, có thu nhập theo mức độ quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân.
- Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế có độ nhạy cảm cao vì nó liên quan trực tiếp đến lợi ích cụ thể của người nộp thuế và liên quan đến hầu hết mọi Luận văn thạc sĩ Viện đại học mở 8 cá nhân trong xã hội. Đặc điểm này xuất phát từ tính trực thu của thuế thu nhập cá nhân. - Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế luôn gắn liền với chính sách xã hội của mỗi quốc gia. Khi tính thuế thu nhập cá nhân có xem xét đến hoàn cảnh cá nhân của người nộp thuế bằng việc quy định một số khoản được khấu trừ có tính chất xã hội trước khi tính thuế.
- Thuế thu nhập cá nhân thường được tính theo biểu thuế lũy tiến từng phần do thuế thu nhập cá nhân được đánh theo nguyên tắc “khả năng nộp thuế” và cũng xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế thu nhập cá nhân là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, động viên sự đóng góp của những người có thu nhập thấp, thu nhập trung bình trong xã hội. - Thuế thu nhập cá nhân không bóp méo giá cả hàng hóa, dịch vụ. Thuế thu nhập cá nhân không cấu thành trong giá bán của hàng hóa, dịch vụ nên nó không tạo sự sai lệch giá cả hàng hóa, dịch vụ. Vai trò của thuế thu nhập cá nhân - Tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước: Thuế thu nhập cá nhân là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống thuế nói chung nên thuế TNCN cũng góp một phần quan trọng để tạo nguồn tài chính cho nhà nước.
Thuế TNCN có diện thu thuế rộng, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước rất lớn. - Góp phần thực hiện công bằng xã hội: Trong mỗi quốc gia, thu nhập của mỗi cá nhân phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố như khả năng và trình độ lao động, vị trí công tác, quyền sở hữu về tài sản của cá nhân đó. Tuy nhiên, các yếu tố nói trên của mỗi cá nhân thường không giống nhau nên đã tạo ra sự khác nhau về thu nhập của mỗi người. Chính sự khác nhau ấy là nguồn gốc tạo ra sự phân cực giàu nghèo, là sự bất bình đẳng trong xã hội.
Để giải quyết vấn đề này, các nước đã dùng nhiều hình thức và biện pháp khác nhau trong Luận văn thạc sĩ Viện đại học mở 9 đó thuế TNCN được xem như một công cụ hữu hiệu để điều tiết bớt thu nhập của những người có thu nhập cao, đảm bảo công bằng xã hội. Thông thường, thuế TNCN chỉ đánh vào thu nhập cao hơn mức khởi điểm thu nhập chịu thuế, không đánh thuế vào những cá nhân có thu nhập vừa đủ nuôi sống bản thân và gia đình ở mức cần thiết. Thêm vào đó khi thu nhập cá nhân tăng lên thì tỷ lệ thu thuế cũng tăng thêm. - Điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm: Thuế thu nhập cá nhân không chỉ là công cụ huy động nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước, mà còn là một trong những công cụ điều tiết vĩ mô, kích thích tiết kiệm và đầu tư theo hướng dẫn nâng cao năng lực hiệu quả xã hội.
Một trong những lý thuyết căn bản của J. Kenyes là lý thuyết về tính hữu dụng giảm dần của thu nhập (mức thu nhập càng cao thì tính hữu dụng của nó càng thấp). Do vậy, để tăng phúc lợi xã hội cần thiết phải điều tiết bớt thu nhập của những đối tượng có thu nhập cao và phân phối lại cho những đối tượng có thu nhập thấp hơn. Bên cạnh đó, thông qua chính sách miễn giảm, ưu đãi,… thuế thu nhập cá nhân có thể tác động trực tiếp đến định hướng tiêu dùng và đầu tư theo hướng có lợi, thực hiện mục tiêu điều chỉnh kinh tế của Nhà nước.
- Góp phần phát hiện thu nhập bất hợp pháp: Thực tế đã chứng minh nhiều khoản thu nhập của một số cá nhân nhận được từ việc thực hiện các hành vi bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng những kẽ hở của pháp luật mà Nhà nước không kiểm soát được như tham ô, nhận hối lộ, buôn bán hàng quốc cấm, trốn tránh thuế, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Nhà nước và công dân,… Những hành vi này ảnh hưởng xấu đến đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Thông qua việc kiểm tra, xác minh thu nhập tính thuế TNCN, cơ quan Nhà nước có thể phát hiện những khoản thu nhập bất hợp pháp để có những biện pháp xử lý phù hợp. Luận văn thạc sĩ Viện đại học mở 10 1.2 Quản lý thuế thu nhập cá nhân 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của quản lý thuế TNCN 1.
Khái niệm quản lý thuế thu nhập cá nhân Quản lý nói chung là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt các mục tiêu đặt ra trong những điều kiện nhất định. Quản lý thuế là hoạt động quản lý gắn liền với cơ quan thuế. Là một hình thức quản lý công, chủ yếu thực hiện khâu hành pháp về thuế của cơ quan thuế các cấp với các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn do luật định, nhằm thực hiện chính sách thuế đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua. Nói cách khác, quản lý thuế là khâu tổ chức thực hiện chính sách thuế của cơ quan thuế các cấp, là việc định ra một hệ thống các tổ chức, phân công phân nhiệm cho các tổ chức này, xác lập các mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận một cách hữu hiệu trong việc thực thi các chính sách thuế nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra.
Quản lý thuế được thực hiện bằng các quy chế, quy trình kỹ thuật nghiệp vụ nhất định với các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định. Do vậy, xét về khía cạnh hành chính thuế, nội dung chính của quản lý thuế sẽ là các trình tự và thủ tục thuế của các đối tượng có liên quan (đối tượng nộp thuế, cơ quan quản lý thuế và các đối tượng khác) trong công tác quản lý thuế: Kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế,… nhằm làm cho các đối tượng liên quan thực hiện đúng các nghĩa vụ luật định về thuế. Và thông qua đó, các trình tự và thủ tục thuế được xây dựng, ban hành, hướng dẫn và kiểm tra bằng sức cưỡng chế của cơ quan thuế. Quản lý thuế thu nhập cá nhân là sự tác động có chủ đích của cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước đối với quá trình tính và thu thuế thu nhập cá Luận văn thạc sĩ Viện đại học mở 11 nhân để thay đổi quá trình này nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách và đạt được các mục tiêu nhà nước đặt ra.
Đặc điểm của quản lý thuế TNCN Xuất phát từ các đặc điểm của thuế TNCN, việc quản lý thuế TNCN cũng có những đặc điểm riêng như sau: Thứ nhất, quản lý thuế TNCN là hoạt động rất nhạy cảm và dễ bị phản ứng từ phía các đối tượng nộp thuế. Khác với các loại thuế tiêu dùng - việc trả thuế được thông qua giá cả hàng hoá, dịch vụ, bản chất trực thu của thuế TNCN làm cho gánh nặng của thuế TNCN được người nộp thuế cảm nhận một cách rõ ràng. Chính bản chất này đã làm cho công tác quản lý thuế TNCN trở nên nhạy cảm, việc thực hiện các biện pháp quản lý cũng vì thế mà gây nên các phản ứng khác nhau cho các đối tượng nộp thuế. Thứ hai, quản lý thuế TNCN là hoạt động phức tạp, tổng hợp nhiều góc độ quản lý kinh tế, xã hội, nhiều cách thức khác nhau: hành chính, kinh tế, tổ chức.
Do đó, đòi hỏi người quản lý phải có trình độ quản lý rất cao và bao quát. Đặc trưng này xuất phát từ hai đặc điểm cơ bản của thuế TNCN là mang tính luỹ tiến và là loại thuế thực. Với cách thức đánh thuế dựa trên thu nhập tổng thể hoặc từng nguồn thu nhập, công tác quản lý các nguồn thu nhập là hết sức phức tạp. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, nguồn thu nhập chịu thuế rất đa dạng, phức tạp và phân tán.
Bên cạnh đó, các quy định về việc khấu trừ chi phí như các quy định về người phụ thuộc, chi phí tạo ra thu nhập. và quy định về việc xác định đối tượng cư trú hay không cư trú trong các luật thuế ở hầu hết các nước đã đặt cho cơ quan thuế một áp lực ngày càng lớn, đòi hỏi trình độ quản lý ngày càng cao và bao quát. Thứ ba, quản lý thuế TNCN gắn chặt với chủ trương phân phối và quản lý thu nhập của Chính phủ trong từng thời kỳ nhất định. Mục tiêu cơ bản của quản lý thuế TNCN là nâng cao tính tuân thủ cho các đối tượng nộp thuế, Luận văn thạc sĩ Viện đại học mở 12 đảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập giữa các đối tượng nộp thuế.