Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHỐI HỢP GIỮA GIÁO VIÊN VÀ PHỤ HUYNH TRONG VIỆC GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 – 4 TUỔI 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Năm 1979 nhà tâm lý học người Mỹ Urie Bronfenbrenner, đã xây dựng lý thuyết hệ sinh thái để giải thích những phẩm chất vốn có của một đứa trẻ và những ảnh hưởng của môi trường đến sự phát triển.
Ông tin rằng sự phát triển của một cá nhân sẽ bị tác động bởi mọi thứ xảy ra xung quanh trong môi trường sống của nó và ông đã đưa ra những ảnh hưởng của môi trường sống đối với sự phát triển của trẻ: Hệ vi mô (Microsystem) là lớp môi trường nhỏ nhất và gần với trẻ nhất từ gia đình, người chăm sóc trẻ, thầy cô giáo và bạn cùng trang lứa, trường học, khu vui chơi… Hệ tương tác (Mesosystem) là sự liên hệ, phối hợp giữa các nhân tố trong hệ vi mô, đặc biệt là mối liên hệ giữa các trải nghiệm trong gia đình và trường học. Hệ ngoại vi (Exosystem) là môi trường rộng hơn, liên quan tới cộng đồng lớn mà trẻ đang sinh sống. Hệ vĩ mô (Macrosystem) là lớp ngoài cùng bao gồm các nhân tố như: Các khuôn mẫu hành vi, niềm tin, các giá trị văn hóa, phong tục tập quán của dân tộc… Hệ thời gian (Chronosystem) là chu trình phát triển của cả cuộc đời cá nhân qua các sự kiện, các giai đoạn chuyển tiếp… đều có tác động trực tiếp đến quá trình phát triển của trẻ. Ông cho rằng quá trình phát triển của mỗi cá nhân điều có sự tương tác với các hệ thống ở trên.
Qua đó cho thấy rằng môi trường xung quanh có ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của trẻ, đặc biệt là gia đình và người chăm sóc trẻ là nhân tố tác động và tạo ra ảnh hưởng trực tiếp đến trẻ nhiều nhất. Vì thế việc giáo dục trẻ không chỉ có ở nhà trường, GV mà còn phải có sự chung tay, hợp tác, phối hợp cùng với gia đình để giáo dục trẻ. Xu thế xã hội hóa GDMN ở nước Nga đã thể hiện rất rõ, giữa gia đình, nhà trường MN và các lực lượng xã hội cần có sự phối hợp chặt chẽ trong công tác GDMN (Nguyễn Thị Hòa, 2011). 9 Tác giả Pirchio, Tritrini, Passiatore, Taeschner (2013) cho rằng: “Công tác phối hợp giữa giáo viên mầm non và cha mẹ trẻ là một công tác quan trọng và không thể thiếu trong quá trình giáo dục trẻ”.
Santiago Nieto Martí (2017) cho rằng: “Mối quan hệ giữa gia đình và nhà trường không được hiểu là những ảnh hưởng riêng biệt mà là những ảnh hưởng chồng chéo”. Điều này nhấn mạnh sự liên quan của sự phối hợp và làm việc tập thể của các ông bố, bà mẹ và GV. Nhà trường và gia đình khác nhau về các loại hình và hình thức tương tác, chiến lược dạy/học, mô hình giao tiếp và tổ chức quan hệ của họ… Và chúng ta phải hiểu chúng như là sự thay đổi nguồn kích thích khác nhau của sự phát triển. Ma-ca-ren-cô cho rằng: “Để giải quyết một cách có kết quả nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ, gia đình, nhà trường và các đoàn thể xã hội phải phối hợp hoạt động một cách chặt chẽ”.
Việc thống nhất giữa gia đình, các bậc PH cũng như nhà trường và các đoàn thể xã hội, sẽ cung cấp những điều kiện thuận lợi để tiến hành giáo dục trẻ một cách có hiệu quả. Cho nên nghĩa vụ của các bậc PH, cha mẹ trẻ là phải tích cực chủ động giúp đỡ, chung tay cùng GV để giúp trẻ phát triển một cách toàn diện hơn (A. Bộ giáo dục Virginia ở Hoa Kỳ 2002 (Virginia Department of Education). Trong bối cảnh cải cách giáo dục, các gia đình có nhiều đóng góp cho giáo dục con cái của mình.
Nhưng để tối ưu hóa những đóng góp của gia đình, trước tiên các nhà giáo dục phải phát triển mối quan hệ đối tác hiệu quả giữa gia đình và nhà trường. Trong quan hệ đối tác đó đầu vào của cả gia đình và trường học đều có giá trị và trọng tâm là những gì cả PH và nhà giáo dục có thể làm để thúc đẩy việc học tập của học sinh. Sự tham gia của gia đình vào giáo dục không phải là một khái niệm mới. Trong nhiều năm, các nhà giáo dục đã đặc biệt tin tưởng vào giá trị sự tham gia của PH, và các bậc PH đã tham gia với các trường học để giúp con cái của họ học hỏi tiềm năng.
Trong chương trình HighScope (2019) của Mỹ trong mối quan hệ đối tác, thì người GV phối hợp với PH và các thành viên khác trong gia đình để thúc đẩy việc học của trẻ em. GV cung cấp thông tin về chương trình giảng dạy và học tập sớm, 10 mời các thành viên gia đình tham gia vào các hoạt động trong lớp và hội thảo PH, thảo luận về sự tiến bộ của trẻ em và chia sẻ ý tưởng để mở rộng việc học trên lớp và ở nhà. Do đó, các GV báo cáo rằng PH sẽ hiểu rõ hơn về cách con cái họ phát triển và học tập. Ngoài ra, trong chương trình HighScope trẻ được tham gia các hoạt động nhóm nhỏ và lớn, hỗ trợ dọn dẹp cùng nhau, phát triển những KN TPV, trẻ có thể tự lập tự chăm sóc bản thân mình.
Trong báo cáo gửi UNESCO của Ủy ban Quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI, đã đưa ra vấn đề gia đình và nhà trường phối hợp nâng cao thành tích học tập của học sinh ở Philippine. Một thí nghiệm đầu tiên về chương trình giáo dục mới này ở một tập thể ở tỉnh Leyte và một khu dân ở thành phố Quezon, Metro Manila. Chương trình có tính đổi mới công nhận cha mẹ là những người thầy giáo của con cái mình và cần tăng cường sự hợp tác của họ với những nhà giáo chuyên nghiệp. Chương trình này được nhóm cha mẹ và GV chỉ đạo ở tất cả các trường học.
GV và hiệu trưởng được trang bị những KN quản lí như xây dựng cơ cấu hợp tác có hiệu quả, cách thức cùng người khác đưa ra quyết định cũng như KN trao đổi giữa GV và cha mẹ, và giữa GV với học sinh. Tại các cuộc thảo luận, các bậc cha mẹ được tư vấn về cách thức giáo dục con mình và có một cuộc hội thảo có sự tham gia của cha mẹ và con cái. Các bậc cha mẹ đã bị lôi cuốn vào các quá trình dạy học. GV hướng dẫn các bậc cha mẹ giúp con mình làm những bài tập về nhà/ở trường.
Cha mẹ còn giúp GV điều khiển các lớp học, nhà trường yêu cầu cha mẹ quan sát hành vi của con mình trong lớp học cũng như các phương pháp dạy học. Những nhận xét và gợi ý của cha mẹ được đưa ra thảo luận tại các cuộc họp giữa GV và cha mẹ học sinh, qua đó những biện pháp cụ thể được mọi người thông qua. Và sau khi áp dụng chương trình này dựa vào thành tích học tập và việc giảm được một số lượng lớn học sinh bỏ học, chương trình sau đó được áp dụng ở tất cả mọi nơi khác trên đất nước Philippin và chúng đạt được những kết quả tốt (Jacques Delors, 2002). Nhìn chung các nghiên cứu ở nước ngoài đều cho thấy tầm quan trọng của sự phối hợp giữa nhà trường, GV và gia đình, PH trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ.
Trong đó, cho thấy GV đóng vai trò chủ động trong hoạt động phối hợp, PH sẽ là người tích cực tham gia, chung tay hỗ trợ cùng GV để đạt được mục đích giáo dục. 11 Và điều quan trọng để cả GV và PH cùng hợp tác lâu dài, cần tạo ra mối quan hệ tốt đẹp, để cả hai tin tưởng và tích cực cùng nhau phối hợp. Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam Theo Luật Giáo dục Việt Nam (2005) thông tư số 07/VBHN-VPQH đã nêu rõ trách nhiệm của nhà trường là chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lí giáo dục. Ngược lại trách nhiệm của gia đình, cha mẹ hoặc người giám hộ có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc, tạo điều kiện cho con em được học tập, rèn luyện tham gia các hoạt động của nhà trường, người lớn có trách nhiệm giáo dục, làm gương cho con em, cùng nhà trường nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục (Quốc Hội, 2005).
Điều lệ trường MN (2015) thông tư số 04/VBHN-BGDĐT, đã nêu nhiệm vụ và quyền hạn của trường MN, trường MG, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp MG độc lập là phối hợp với gia đình, tổ chức và cá nhân để thực hiện hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc – giáo dục trẻ. Năm 2018 Bộ Giáo dục & Đào tạo đã đưa ra chuẩn nghề nghiệp GVMN thông tư số 26/2018/TT – BGDĐT, đã nêu sự phối hợp của GVMN với cha mẹ hoặc người giám hộ trẻ em và cộng đồng để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em và được thể hiện ở 3 mức độ: Đạt – khá – tốt. Trong lĩnh vực phát triển thể chất của trẻ MG 3 – 4 tuổi, chương trình GDMN (2017) cũng đã đưa ra nội dung tập trẻ làm một số việc tự phục vụ trong sinh hoạt như: Làm quen cách đánh răng, lau mặt, tập rửa tay bằng xà phòng. Với kết quả mong đợi trẻ thực hiện được một số việc đơn giản với sự giúp đỡ của người lớn: Rửa tay, lau mặt, súc miệng, tháo tất, cởi quần áo… và khi thực hiện chương trình cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ sở GDMN với gia đình và cộng đồng để chăm sóc giáo dục trẻ tốt nhất.
Theo tác giả Phạm Thị Châu (2008) cho rằng“Gia đình là một lực lượng quan trọng góp phần tạo nên chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ trong trường mầm non” do đó Ban giám hiệu nhà trường thường xuyên chỉ đạo giáo viên chủ động phối hợp với gia đình nhằm tạo mối quan hệ hai chiều mật thiết, chặt chẽ để thống nhất về mục tiêu, nội dung, phương pháp, xây dựng môi trường giáo dục thống nhất, nhằm thực hiện mục tiêu GDMN. 12 Tác giả Trần Ngọc Tuấn (2015) trên bài báo giáo dục TP.HCM, với bài viết “Vai trò của phụ huynh” tác giả cho rằng nhà trường, xã hội và gia đình là các yếu tố tác động đến sự hình thành nhân cách của trẻ. Trong đó gia đình, PH đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng trực tiếp nhiều nhất đến trẻ. Do vậy trong giáo dục trẻ luôn đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình, PH.