CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH DU LỊCH Ở TỈNH 1.1 Chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao ngành du lịch Trên thế giới, có hai thuật ngữ có liên quan thường được sử dụng là talent (nhân tài) và skilled worker (lao động có kỹ năng/trình độ) hay highly skilled worker (lao động có kỹ năng/trình độ cao). Talent (nhân tài) thường để chỉ những người có tài năng, năng khiếu bẩm sinh để làm một công việc nhất định. Còn lao động có trình độ cao là để chỉ những người có những kỹ năng thực hiện công việc thông qua quá trình đào tạo, huấn luyện hoặc làm việc. Thông thường, thuật ngữ “nhân tài” vẫn được sử dụng để chỉ những người có trình độ cao, có năng lực, uy tín trong một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định.
Ngoài ra, còn có các thuật ngữ có liên quan như thiên tài (người có tài năng, năng khiếu thiên phú đặc biệt, hơn hẳn người thường), hiền tài (người vừa có tài, vừa có đức) [22, tr. Để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế, các quốc gia phát triển như các nước Tây Âu, Úc, Canada, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Singapore… đều rất quan tâm đến việc thu hút nguồn nhân lực CLC ở trong nước cũng như từ nước ngoài. Trong các chính sách về quản lý di cư hoặc nhập tịch của những nước này đều có những quy định nhằm thu hút và tạo điều kiện thuận lợi cho việc cư trú hoặc nhập tịch đối với lao động có trình độ cao (skilled worker/highly skilled worker). Nhiều nước đã đề ra các chính sách để thu hút nguồn nhân lực cao từ nước ngoài, như tạo điều kiện thuận lợi thành lập doanh nghiệp, cho phép có hai quốc tịch, ưu đãi thuế… 10 Tùy vào chính sách nhập cư của từng nước và cách tiếp cận khác nhau mà các quốc gia đề ra tiêu chuẩn khác nhau để phân biệt lao động có trình độ và lao động không có trình độ.
Hơn nữa, định nghĩa lao động có trình độ còn thay đổi theo thời gian để phù hợp với cấu trúc nền kinh tế và cấu trúc thị trường lao động. Lao động có trình độ cao thường được gọi là “chuyên gia” (professional) hoặc “lao động có trình độ cao” (highly skilled worker) nhưng tùy từng hoàn cảnh mà có nghĩa khác nhau. Có hai cách tiếp cận định nghĩa lao động có trình độ, phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu và nguồn dữ liệu phân tích. Cách thứ nhất cho rằng, lao động có trình độ là người có trình độ đào tạo ít nhất là ở bậc đại học, cao đẳng.
Đây là cách tiếp cận tạo thuận lợi cho công tác thống kê số liệu, vì thế thường được sử dụng khá rộng rãi. Cùng cách tiếp cận này, lao động có trình độ cao (highly skilled worker) được xác định là người đã qua đào tạo sau đại học hoặc có bằng tiến sĩ. Chẳng hạn, Tổ chức Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ là tổ chức thu thập đầy đủ nhất bộ thông tin về các nhà khoa học và kỹ sư quốc tế và bộ thông tin này chỉ tập trung thông tin về những nhà khoa học/kỹ sư có bằng tiến sĩ trở lên. Cách tiếp cận thứ hai dựa trên đặc điểm nghề nghiệp của người lao động.
Theo đó, nguồn nhân lực trình độ cao là những người làm việc trong ngành y tế (bác sĩ, y tá đã đăng ký hành nghề, kỹ thuật viên y tế) hoặc công nghệ cao (toán, máy tính, khoa học tự nhiên, kỹ sư kỹ thuật công nghệ,. Cách tiếp cận này có nhược điểm là rất nhiều trường hợp làm trong lĩnh vực này nhưng lại chưa qua đào tạo. Các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) và Cộng đồng chung châu Âu (EU) thì lại đưa ra định nghĩa: “Nguồn nhân lực có trình độ trong lĩnh vực khoa học - công nghệ phải thỏa mãn 01 trong 02 tiêu chí: có trình độ đại học hoặc đã từng làm việc trong lĩnh vực khoa học - công nghệ ở vị trí của người phải tốt nghiệp đại học”. Trong khi đó, tại cuộc hội thảo 11 “Dòng chuyển dịch quốc tế của nguồn nhân lực trình độ cao: Từ phân tích số liệu thống kê đến xây dựng chính sách” do các nước OECD tổ chức vào tháng 6/2001 tại Pari lại xác định nguồn nhân lực trình độ cao là những người đã được đào tạo sau đại học, nhà nghiên cứu, chuyên gia công nghệ thông tin, y dược, các nhà quản trị doanh nghiệp [4, tr.
Cũng có quan điểm cho rằng, nguồn nhân lực chất lượng cao phải đáp ứng cả hai tiêu chí trên. Chẳng hạn, pháp luật về nhập cảnh theo visa H-1B của Mỹ quy định người lao động nước ngoài muốn xin visa loại này phải có kiến thức trong các lĩnh vực như kiến trúc sư, kỹ sư, toán, lý, khoa học xã hội, công nghệ sinh học, y dược, giáo dục, luật, kế toán, kinh doanh, thần học, nghệ thuật và ít nhất phải có bằng cử nhân (trừ người mẫu). Riêng đối với người đang ở Mỹ thì phải có bằng thạc sĩ trở lên do các cơ sở đào tạo ở Mỹ cấp. Tiêu chuẩn cấp thẻ xanh của EU cũng quy định người có “trình độ cao” là người có bằng đại học và 3 năm kinh nghiệm làm việc liên quan.
Nhìn chung, trên thế giới, tùy cách tiếp cận, mục tiêu nghiên cứu hoặc mục tiêu hoạch định chính sách mà khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao được định nghĩa khác nhau. Nhưng có thể rút ra một điểm chung nhất của các cách tiếp cận trên là họ phải được đào tạo ở một bậc học nhất định (đại học trở lên hoặc cao học, nghiên cứu sinh trở lên) và trong một số lĩnh vực nghề nghiệp nhất định. Ở Việt Nam, các thuật ngữ “nguồn nhân lực trình độ cao” và “nguồn nhân lực chất lượng cao” cũng được sử dụng khá phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng. Chúng ta cũng chưa có một định nghĩa chính thức cho những thuật ngữ này.
Có quan điểm cho rằng, nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu của thị trường, tức là có kiến thức; có kỹ năng; có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc [7]. Như vậy, bất kỳ người lao động nào (công nhân, kỹ thuật viên, kỹ sư, bác sĩ, giáo sư hay tiến sĩ) được 12 sử dụng đúng ngành nghề đào tạo, đáp ứng yêu cầu tốt nhất công việc của cơ quan, doanh nghiệp cũng đều là nguồn nhân lực chất lượng cao. Vì thế, để xác định một người có phải là “nhân lực chất lượng cao” hay không phải thông qua việc đánh giá quá trình và kết quả làm việc của họ. Với cách tiếp cận hình thức, có tác giả sử dụng khái niệm “nguồn nhân lực trình độ cao” để chỉ những người đã đạt được một trình độ đào tạo nhất định thuộc hệ thống giáo dục đại học, nắm vững chuyên môn nghề nghiệp, có khả năng làm việc độc lập, tổ chức triển khai những công trình quan trọng với phương pháp khoa học, công nghệ tiên tiến.
Cách tiếp cận này cũng khá tương đồng với cách tiếp cận khái niệm lao động có kỹ năng cao trên thế giới, tức là cùng dựa vào tiêu chí trình độ đào tạo để xác định nguồn nhân lực trình độ cao. Thuật ngữ nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam lần đầu tiên được sử dụng tại văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Văn kiện Đại hội xác định: “Nguồn nhân lực chất lượng cao được xác định là bộ phận ưu tú nhất của nguồn nhân lực đất nước, bao gồm những người tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống; có trình độ học vấn, chuyên môn cao; có sức khỏe tốt; luôn đi đầu trong lao động, sáng tạo khoa học, đóng góp tích cực, hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa học công nghệ đầu đàn”.
Trên cơ sở khái niệm chung về nguồn nhân lực chất lượng cao, chúng ta có thể nêu quan niệm về nguồn nhân lực CLC ngành du lịch như sau: nguồn nhân lực CLC ngành du lịch là một bộ phận của nguồn nhân lực ngành du lịch, bao gồm những người làm chuyên môn trong các sở, ngành, các cơ quan nhà nước; người quản lý các tour du lịch, nhà hàng, khách sạn… có khả năng đáp ứng được yêu cầu cơ bản của nguồn nhân lực, có khả năng trở thành chuyên gia trong lĩnh vực công tác, công việc được giao.2 Tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao Có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực chất lượng cao, vì vậy có rất nhiều cách xác định khác nhau đối với nguồn nhân lực chất lượng cao. Nguồn nhân lực chất lượng cao có thể xác định bởi các tiêu chí sau: Một là, có năng lực thực tế hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách xuất sắc nhất và có đóng góp thực sự hữu ích cho công việc của xã hội, của nghề nghiệp và nơi họ làm việc; không phải ở dạng tiềm năng, không phụ thuộc nhiều vào bằng cấp, học vị. Khía cạnh này đề cập nhiều đến “tài” và “tầm” của nhân lực chất lượng cao. Hai là, có phẩm chất đạo đức, ý chí, khát vọng phục vụ lợi ích chung.
Những phẩm chất nhân cách của con người mới là yếu tố cơ bản bảo đảm chất lượng nhân lực. Sự phát triển nhân lực chất lượng cao tùy thuộc vào trình độ phát triển nhân cách với những bộ phận hợp thành cấu trúc nhân lực. Ba là, có trí tuệ, tư duy độc lập, khả năng đổi mới sáng tạo và hợp tác làm việc. Bốn là, có năng lực nghề nghiệp vượt trội, tiêu biểu trong các lĩnh vực làm việc (có tay nghề cao, …).
Nhân lực du lịch chất lượng cao có thể chia thành ba nhóm với những đặc điểm, vai trò khác nhau: 1) Nhóm nhân lực quản lý nhà nước về du lịch, với vai trò quan trọng trong xây dựng chiến lược phát triển du lịch quốc gia và địa phương, tham mưu hoạch định chính sách phát triển du lịch, hướng dẫn, giúp đỡ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịch có hiệu quả; kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh du lịch. 2) Nhóm nhân lực sự nghiệp ngành Du lịch, là bộ phận có trình độ học vấn cao, có kiến thức chuyên sâu về du lịch, có chức năng đào tạo, 14 nghiên cứu khoa học về du lịch và có vai trò to lớn trong phát triển nguồn nhân lực.