Chương I NHUNG VAN DE LY LUAN VE THUC HANH QUYEN CONG TO TRONG GIAL DOAN DIEU TRA VU AN LU'A DAO CHIEM ĐOẠT TÀI SAN 1. Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án lừa đáo chiếm đoạt tài san 1. Nhận thức vụ án lừa đão chiếm đoạt tài sân 1. Tôi lừa đào chiếm đoạt tài sản Trong khoa học luật hình sự, khái niệm tội phạm là khái niệm trung tâm, cơ bản nhất, là cơ sở thống nhất cho việc xác định những tội phạm cụ thể trong Phần các tội phạm của BLHS, mặt khác nó thể hiện một cách rõ nét những nguyên tắc cơ bản của Luật hình sự Việt Nam.
So với BLHS năm 1999, định nghĩa khái mệm tội phạm trong BLHS năm 2015 (sửa đổi, bố sung 2017) đã có một cách nhìn nhận tổng thể hơn, bao quát hơn, điểm mới nỗi bật trong định nghĩa này là Bộ luật quy định thêm chủ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là “pháp nhân thương mạt"”. Việc bổ sung thêm chủ thê này xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn dau tranh phòng chống tội phạm và sự phát triển của kinh tế, xã hội trong tình hình mới. Song trong phạm vi bai viết, tác giả chỉ nghiên cứu phạm vi chi thé là “người có năng lực trách nhiệm hình sự” thực hiện hành vi phạm tội. Tội Lừa đáo chiếm đoạt tài sản là tội phạm cụ thể được quy định tại Điều 174 BLHS 2015 (sửa đối, bỗ sung 2017) và nằm trong nhóm tội xâm phạm sở hữu quy định tại Chương XVII cùng với các tội phạm khác như: Tội cướp tài sản (Điều 168); Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169); Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170), Tội cướp giật tài sản (Điều 171); Tội trộm cắp tài sản (Điều 173).
Do nam trong nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu nên khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản sẽ thỏa mãn những điều kiện chung của các tội xâm phạm sở hữu đồng thời thỏa mãn những đấu hiệu đặc trưng riêng. Theo cách hiểu chung nhật: Lừa đáo là đùng thủ đoạn gian đối đánh lừa người khác để mưu lợi. Trên thực tế thủ đoạn gian dối rất đa dang, thé hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: nói dối, dùng giấy tờ giả mạo, giá danh người có chức có quyên, nhằm giấu giễm nội dung sai sự thật (ít nhiều hoặc hoàn toàn) dé chiếm đoạt tài sản, tiền bạc, thu lợi vật chất khác hoặc che giấu một việc làm xấu. Sự lừa đảo được thực hiện trước hoặc liền ngay với hành dong chiếm đoạt.
Theo quy định tại Điều 174 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bỗ sung năm 2017): *. Người nào bằng thú đoạn gian đổi chiếm đoại tài sản của người khác trị giá từ 2.000 đồng đến dưới 50.000 đồng hoặc dưới 2.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Mặc đù điều Luật không định nghĩa cụ thé thế nào là tội lừa đáo chiếm đoạt tài sản, tuy nhiên đưới góc độ pháp lý có thể hiểu: “tội phạm lừa đào chiếm đoạt tài sản là hành ví của người dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác. Từ những phân tích trên, tác giá đưa ra khái niệm về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: “7ội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành ví nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự cô ý thực hiện bằng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoại tài sản của cá nhân, cơ quan, tô chức; xâm phạm quyên sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ.” Để có nhận thức đúng đắn và sâu sắc về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cần phân tích các đầu hiệu pháp lý đặc trưng, cụ thể: - Khách thê: Khách thé cua tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quyền sở hữu đối với tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm quyển chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt.
Tội phạm này không xâm hại đến quyền nhân thân do trong cấu thành tội phạm, các nhà làm luật không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khỏe là tình tiết định khung hình phạt. Đối tượng tác động của tội phạm này là: “Vật, tiền, giấy tờ có giá trị và quyền tài sản”, trong đó “Vật”, “tiền” là đối tượng tác động chủ yếu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. - Mặi khách quan: Trong mặt khách quan của tội phạm thì hành vi khách quan là biểu hiện cơ bán và được phán ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm. Quá trình nghiên cứu các đặc điểm thuộc mặt khách quan của tội Lùa đảo chiếm đoạt tài sản, tác giá nhận thấy còn nhiều quan điêm khác nhau về hành vi khách quan, cụ thê: Quan điểm thứ nhất: Hành vi khách quan của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ có một hành vi khách quan duy nhất đó là “hành vi chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian đối.
Hay nói cách khác, quan điểm này chỉ coi “chiếm đoạt" là hành vi đuy nhất còn “thủ đoạn gian đối” chỉ được nhìn nhận là phương thức để thực hiện hành vi chiếm đoạt hay là phương thức để đạt được mục đích. Quan điểm này cho thấy sự phù hợp với quy định tại Điều 174 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017): “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác”. Quan điểm thứ hai: Hành vi khách quan của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm hai hành vi đó là “hành vi gian đối” và “hành vi chiếm đoạt”. Giữa hai hành vi này có mỗi quan hệ chặt chẽ với nhau, hành vi gian dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt xảy ra còn hành vi chiếm đoạt là mục đích, kết quả của hành vị lừa dối.
Trên phương diện cá nhân, tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai bởi l bất kỳ “thủ đoạn” nào cũng đều phải thể hiện dưới đạng hành vi nhất định. “Gian đỗi” là việc đưa ra những thông tin giả, không chính xác bằng nhiều cách khác nhau như lời nói, chữ viết, hành động, giả vờ vay mượn giấy tờ. để làm cho người khác tin đó là sự thật và giao tài sản cho người phạm tội. Xét cho cùng “gian dôi” là hành vĩ được ý thức kiểm soát và ý chí điều khiển.
Hơn nữa, thủ đoạn gian đối trong tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải được biếu hiện bằng những hành vi lừa đối nhất định trước khi người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt tải sản. Do đó, giữa hành vi gian déi và hành vi chiếm đoạt có sự độc lập tương đối, Xây ra kế tiếp nhau về mặt thời gian. Điểm đặc biệt và cơ bản trong hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản để phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tôi phạm khác là thủ đoạn gian đối của người phạm tội phái có trước hành vi chiếm đoạt và là nguyên nhân trực tiếp khiến người bị hại tin là thật mà giao tài sản cho người phạm tội; nêu thủ đoạn gian đối có sau khi người phạm tội nhận được tài sản thì không phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tùy trường hợp cụ thể có thể là hành vi phạm tội khác như tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Trên thực tế, tội lừa đảo chiếm đoạt tải sản thường dựa trên các giao dịch dân sự, kinh tế nên thường có tình trạng “hình sự hóa” các giao dịch dân sự, kinh tế hoặc ngược lại “dân sự hóa” các hành vi phạm tội.
Tội lừa dao CDTS va các giao dich dan sự, kinh tế đều có điểm giỗng nhau là các bên xác lập một giao dịch theo quy định của pháp luật, cam kết thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, quá trình thực hiện giao dịch, một bên hưởng lợi nhưng không thực hiện nghĩa vụ về tài sản đẫn đến thiệt hại cho bên còn lại, trường hợp này cần xem xét có hành vi lừa đối để chiếm đoạt tài sản hay không để kết hành vi cầu thành tội Lừa đảo CĐTS hay chỉ là vi phạm nghĩa vụ trong giao dịch dân sự, kinh tế. Nếu một người vi phạm nghĩa vụ đã giao kết do nguyên nhân khách quan sau đó sử dụng nhiều phương thức để chậm thực hiện nghĩa vụ thì không có cơ sở xác định hành vi lừa đảo, song nếu người đó có ý thức gian đối để chiếm đoạt ngay từ đầu thì đây là hành vi phạm tội Lừa đảo CĐTS. Do đó, để phân định ranh giới giữa các giao dich dân sự, kinh tế và tội Lừa đáo CĐTS còn là vấn dé khó khăn, thiếu sót.
Bên cạnh đó, trong thực tiễn còn nhiều trường hợp cũng có hành vi là thủ đoạn gian đối, cũng có hành vi chiếm đoạt, nhưng hành vi này đã được BLHS quy định thành tội phạm độc lập thì cũng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Lừa 10 đảo CĐTS mà bị truy cứu về tội phạm tương ứng khác như tội lừa đối khách hàng hoặc buôn bán hàng giả. + Hậu quả nguy hiểm cho xã hội: Tội lừa đáo chiếm đoạt tài sản là tội có cấu thành vật chất do đó hậu quả là yếu tế bắt buộc trong mặt khách quan của tội phạm. Thời điểm tội phạm hoàn thành được xác định khi người phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ tài sản tin tưởng và giao tài sản của mình hoặc tài sản do mình đang quản lý cho chúng. Hậu quả của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là giá trị tài sản bị người phạm tội chiếm đoạt.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS 2015 (sửa đối, bổ sung 2017) thì tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 2.000 đồng trở lên mới câu thành tội phạm, còn nếu tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000 đồng thì phải kèm theo điều kiện đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của BLHS, chưa được xóa án tích mà còn vĩ phạm hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ. Dựa vào mức giá trị tài sản bị chiếm đoạt mà điều luật đã phân chia thành các khung hình phạt tương ứng với mức độ hậu quả đã xảy ra. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp phải có thiệt hại về tài sản thi mới cấu thành tội phạm.