Chương 1: Những vấn đề lý luận về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo dưới 18 tuổi trong luật tố tụng hình sự Việt Nam. Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thủ tục xét xử sơ thẩm đối với bị cáo dưới 18 tuổi. Chương 3: Thực tiễn áp dụng thủ tục xét xử đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi tại quận Tân Bình, TPHCM và kiến nghị hoàn thiện. 5 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI BỊ CÁO DƢỚI 18 TUỔI TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.
Khái niệm thủ tục xét xử sơ thẩm đối với bị cáo dƣới 18 tuổi Như chúng ta đã biết, năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi của con người không hình thành ngay khi cá nhân được sinh ra mà phải tích lũy theo thời gian và kinh nghiệm sống. Chính vì vậy, tuổi là tiền đề để đánh giá mức độ trưởng thành của một cá nhân. Theo chuẩn mực quốc tế và ở Việt Nam, khi một người chưa đủ 18 tuổi, họ cần được bảo vệ đặc biệt hơn so với người đã trưởng thành. Trong lĩnh vực hình sự, người dưới 18 tuổi được coi là người chưa có năng lực nhận thức đầy đủ, khả năng kiểm soát hành vi còn hạn chế.
Các nghiên cứu về đặc điểm tâm lý lứa tuổi cũng cho thấy, người dưới 18 tuổi chưa phát triển đầy đủ về thể chất và đặc điểm tâm lý. Theo quy định tại Điều 1 Công ước về quyền trẻ em năm 1989 thì “Trẻ em là người dưới 18 tuổi trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Bên cạnh Công ước về quyền trẻ em năm 1989 thì Quy tắc tối thiểu của Liên Hợp Quốc về việc áp dụng pháp luật đối với NCTN (Quy tắc Bắc Kinh) do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 14/12/1992 cũng đã đề cập đến khái niệm “NCTN là người dưới 18 tuổi”. Ở Việt Nam, độ tuổi NCTN được xác định thống nhất trong Hiến Pháp, BLHS, Bộ luật TTHS, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác.
Tất cả các văn bản pháp luật đó đều quy định tuổi của NCTN là dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế định pháp luật đối với NCTN trong từng lĩnh vực cụ thể. Khái niệm NCTN khác với khái niệm trẻ em. Theo Điều 1 của Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004 thì: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”. Theo quy định cụ thể của BLHS thì NCTN là người dưới 18 tuổi.
Tuy nhiên, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt 6 nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 BLHS. Như vậy, mức tuổi tối thiểu phải chịu TNHS theo quy định của BLHS Việt Nam là người từ đủ 14 tuổi. Tuy nhiên, ở độ tuổi này, sự nhận thức và điều khiển hành vi của con người có giới hạn, chưa hoàn chỉnh nên họ chỉ phải chịu TNHS về một số tội được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS.
Ở độ tuổi từ đủ 16 tuổi trở lên, sự nhận thức và điều khiển hành vi của con người nói chung đã tương đối hoàn chỉnh nên họ phải chịu TNHS về mọi tội phạm. Bên cạnh đó, Điều 61 BLTTHS năm 2015 quy định bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Điều này có nghĩa nếu chưa có quyết định của Tòa án đưa ra xét xử thì bị can vẫn chưa được gọi là bị cáo, mặc dù hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng truy tố người đó đã được gửi cho Tòa án. Do đó, kết hợp với quy định về độ tuổi chịu TNHS tại Điều 12 BLTTHS năm 2015, có thể đưa ra khái niệm về bị cáo là người dưới 18 tuổi như sau: “Bị cáo là người dưới 18 tuổi là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi bị Tòa án ra quyết định đưa ra xét xử”.
Để đảm bảo tính khách quan, sự bình đẳng và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia trong quá trình giải quyết các vụ án, pháp luật đã quy định thẩm quyền giải quyết, trình tự tiến hành cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên một cách cụ thể. Do các vụ án có đặc thù khác nhau nên pháp luật quy định cách thức, trình tự khác nhau tương ứng. TTTT dân sự được áp dụng cho việc giải quyết các vụ án dân sự, thủ tục hành chính áp dụng cho việc giải quyết các vụ án hành chính, thủ tục TTHS được áp dụng cho việc giải quyết các VAHS. Để có thể đưa ra một khái niệm phản ánh đúng bản chất của TTTT đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi, bước tiếp theo là cần tìm hiểu khái niệm “thủ tục TTHS”.
Thủ tục TTHS là cách thức, trình tự tiến hành xem xét một vụ việc hoặc giải quyết một vụ án đã được thủ lý hoặc khởi tố theo các quy định của pháp luật [13]. Khái niệm “thủ tục TTHS” đã được sử dụng khá phổ biến và hiểu một cách tương đối thống nhất là “cách thức, trình tự và nghi thức có tính chất bắt buộc phải tuân theo luật định đối với toàn bộ hoạt động TTHS cũng như đối với từng giai đoạn TTHS, hành vị TTHS cụ thể nhằm pháp hiện chính 7 xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội” [23; tr. Quá trình TTHS được chia thành nhiều giai đoạn: Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Ngoài những quy định chung, BLTTHS năm 2015 còn ghi nhận Chương XXVIII áp dụng cho đối tượng đặc biệt: Người dưới 18 tuổi.
Điều 413 BLTTHS năm 2015 quy định về phạm vi áp dụng TTTT dành cho người dưới 18 tuổi bao gồm người bị buộc tội, người bị hại, người làm chứng nhưng không ghi nhận khái niệm “TTXX đối với người dưới 18 tuổi”. Qua nghiên cứu về TTTT tại Chương này, tác giả nhận thấy nhà làm luật đã đề ra những quy định mang tính đặc trưng riêng cho người dưới 18 tuổi. Đó là những quy định về tiêu chuẩn của người tiến hành tố tụng, những đối tượng cần phải chứng minh, về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, vấn đề bào chữa, việc tham gia của gia đình, nhà trường và tổ chức xã hội cũng như hoạt động xét xử và thi hành án. TTXX đối với bị cáo sẽ bắt đầu từ khi cáo quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Theo quy định của BLTTHS năm 2015, TTTT đối với người bị buộc tội, người bị hại, người làm chứng dưới 18 tuổi phải theo một trình tự đặc biệt quy định tại Chương XXVIII và những quy định khác của bộ luật này không trái với các quy định của Chương XXVIII. Từ những phân tích trên có thể đi đến kết luận: “TTXX sơ thẩm đối với bị cáo dưới 18 tuổi theo pháp luật TTHS Việt Nam là một loại thủ tục xét xử đặc biệt được áp dụng với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử sơ thẩm nhằm giải quyết đúng đắn, khách quan vụ án và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trong các hoạt động TTHS”. Cơ sở quy định thủ tục đặc biệt đối với bị cáo là ngƣời dƣới 18 tuổi TTXX đối với người dưới 18 tuổi nói chung và bị cáo là người dưới 18 tuổi nói riêng được quy định xuất phát từ cơ sở khoa học và thực tiễn sau đây: Thứ nhất, xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý của người dưới 18 tuổi trong VAHS. Người dưới 18 tuổi là người đang ở trong lứa tuổi mà khả năng nhận thức về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị hạn chế và là đối tượng dễ bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài.
Với bản lĩnh tự lập hạn chế, khả năng tự 8 kiềm chế chưa cao, họ có thể thực hiện tội phạm do bị người khác dụ dỗ, kích động, thúc đẩy, lôi kéo. Sự tác động từ các yếu tố xã hội ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nhận thức của họ dẫn đến hành động của họ mang tính manh động, mù quáng, khó tránh khỏi những hậu quả nguy hiểm xảy ra. Môi trường sống ảnh hưởng rất lớn đến nhân cách của những người dưới 18 tuổi, nó tác động không nhỏ đến sự phát triển và hình thành nhân cách của họ. khi sống trong một môi trường lành mạnh, được sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội, những người dưới 18 tuổi sẽ có điều kiện thuận lợi để phát triển tâm lý lành mạnh và có nhân cách tốt.
Ngược lại nếu sống trong môi trường không lành mạnh, bị ảnh hưởng bởi những nhân tố tiêu cực, thiếu sự quan tâm, giáo dục từ phía gia đình, nhà trường và xã hội sẽ rất dễ đẩy các em vào những hành động lệch lạc, là mầm mống cho các hành vi vi phạm pháp luật. Ngoài ra, với năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi còn hạn chế, họ có thể thực hiện tội phạm do nhận thức chưa đầy đủ về tính nguy hiểm của hành vi, đánh giá sai tình huống và các đòi hỏi của xã hội. Xuất phát từ sự nhận thức không đúng về các giá trị chuẩn mực trong các mối quan hệ xã hội, sự hiểu biết về pháp luật của hạn chế, tâm sinh lý dễ bị dao động, lôi kéo vào con đường phạm tội tuy nhiên cũng nhiều khả năng cải tạo, uốn nắn, việc giáo dục, tác động giúp họ sửa chữa những khuyết điểm, phát triển toàn diện và có ích cho xã hội sẽ thuận lợi hơn so với người trên 18 tuổi. Vì thế khi xét xử vụ án hình sự đối với bị cáo dưới 18 tuổi cần có thủ tục riêng để bảo đánh giá đầy đủ về năng lực nhận thức và hành vi phạm tội của bị cáo.
Thứ hai, xuất phát từ chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với người dưới 18 tuổi.