CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÙ LAO TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm 1. Thù lao lao động Con người là nguồn lực quý giá góp phần đem đến thành công cho doanh nghiệp. Bản thân doanh nghiệp và cả cá nhân người lao động trong doanh nghiệp đều có những nhu cầu riêng.
Người lao động phục vụ cho doanh nghiệp thì đổi lại họ sẽ được nhận thù lao lao động tương xứng với những đóng góp của mình. Có nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau về thù lao lao động, điển hình như sau: - Theo Lê Thanh Hà (2011): “Thù lao lao động bao gồm mọi hình thức lợi ích về tài chính, phi tài chính và những dịch vụ đích thực mà người lao động được hưởng trong quá trình làm thuê”. [5, 102] Theo Trần Kim Dung (2015): “Thù lao là khoản tiền công bù đắp cho sức lao động đã bỏ ra để thực hiện một công việc, căn cứ vào khối lượng, chất lượng công việc theo thời gian lao động hoặc theo thoả thuận giữa các bên” [2, 102] Theo tác giả Nguyễn Hữu Thân (2018): “Chính sách thù lao là chỉ về mọi loại phần thưởng mà một cá nhân nhận được để đổi lấy sức lao động của mình. Theo tác giả, chính sách thù lao đối với người lao động là quá trình chăm lo đời sống vật chất của người lao động để họ có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và qua đó góp phần hoàn thiện mục tiêu của doanh nghiệp”.
[18, 103] Theo Đỗ Thị Tươi (2020): “Thù lao lao động là tất cả những lợi ích mà người lao động nhận được thông qua mối quan hệ thuê mướn giữa họ và doanh nghiệp”. Người lao động có thể nhận được các lợi ích khi họ tham gia 11 làm việc trong doanh nghiệp như tiền lương, tiền thưởng, các chế độ phúc lợi, cơ hội thăng tiến,… [13, 103]. Trên cơ sở các khái niệm trên, tiếp cận thù lao lao động theo Đỗ Thị Tươi: “Thù lao lao động là tất cả các lợi ích tài chính và phi tài chính mà người lao động nhận được từ doanh nghiệp thông qua mối quan hệ thuê mướn giữa người lao động và doanh nghiệp”. [13, 103] Đối với doanh nghiệp, thù lao lao động là công cụ quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp, thông qua hệ thống thù lao lao động khoa học, hợp lý doanh nghiệp có thể duy trì, củng cố và phát triển nguồn nhân lực của mình.
Thông qua thù lao lao động doanh nghiệp có thể thúc đẩy người lao động yên tâm làm việc, đóng góp công sức để phát triển doanh nghiệp. Thù lao lao động là đòn bẩy quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thù lao lao động tác động/tạo động lực làm việc và thúc đẩy người lao động cống hiến cho doanh nghiệp. Cơ cấu của thù lao lao động Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả tiếp cận thù lao lao động bao gồm hai phần: Thù lao tài chính và phi tài chính (Hình 1.1: Cơ cấu thù lao lao động (Nguồn: Đỗ Thị Tươi, 2020) 12 Có nhiều cách tiếp cận hệ thống thù lao lao động trong doanh nghiệp như: Thù lao tài chính và thù lao phi tài chính; Thù lao vật chất và thù lao phi vật chất; Thù lao trực tiếp và thù lao gián tiếp; Thù lao cố định và thù lao biến đổi; Thù lao cơ bản, khuyến khích tài chính và phúc lợi;…Luận văn luận vào cơ cấu thù lao lao động gồm thù lao tài chính và thù lao phi tài chính.
Trong đó, thù lao tài chính là các lợi ích tài chính người lao động nhận được bao gồm tiền lương, khuyến khích tài chính, phúc lợi tài chính; thù lao phi tài chính là các lợi ích người lao động nhận được không phải bằng tiền mà là các lợi ích phi tài chính như môi trường làm việc, đặc thù công việc, đào tạo, cơ hội thăng tiến, sự công nhận, văn hóa doanh nghiệp,… 1. Thù lao tài chính Qua phân tích về cơ cấu thù lao lao động thì có thể thấy thù lao tài chính là một phần của thù lao lao động, một số khái niệm điển hình về thù lao tài chính: Theo Lê Thanh Hà (2011): “Các khoản Thù lao tài chính bao gồm các khoản thù lao cơ bản, các khuyến khích tài chính, các phúc lợi tài chính”. Thù lao vật chất trực tiếp bao gồm lương công nhật, lương tháng, tiền hoa hồng và tiền thưởng. Thù lao vật chất gián tiếp bao gồm chính sách như: Bảo hiểm nhân thọ, y tế, các loại trợ cấp xã hội; các loại phúc lợi bao gồm các kế hoạch về hưu, an sinh xã hội, đền bù cho công nhân làm việc trong môi trường độc hại, làm việc thay ca, làm việc ngoài giờ, làm việc vào ngày nghỉ lễ,…; các trợ cấp giáo dục, trả lương trong trường hợp vắng mặt vì nghỉ hè, nghỉ lễ, ốm đau, thai sản…” [15, 103] 13 Theo Đỗ Thị Tươi (2020): “Thù lao tài chính là các khoản thù lao người lao động nhận được dưới dạng các lợi ích tài chính.
Thù lao tài chính bao gồm các khoản như lương cơ bản, phụ cấp lương, tiền thưởng, hoa hồng, phân chia năng suất, lợi nhuận, bảo hiểm, trợ cấp xã hội và các phúc lợi tài chính khác. [13, 103] Với quan điểm này thù lao tài chính bao gồm tiền lương, các khuyến khích tài chính và phúc lợi tài chính. Khuyến khích tài chính là các khoản tiền trả cho sự nỗ lực tăng thêm của người lao động trong quá trình làm việc. Các khoản phúc lợi tài chính là các khoản hỗ trợ về cuộc sống cho người lao động.
Bao gồm các khoản phúc lợi bắt buộc theo quy định của pháp luật hiện hành và phúc lợi tự nguyện từ quỹ phúc lợi của doanh nghiệp. Dựa theo các quan điểm trên, tiếp cận: “Thù lao tài chính là các lợi ích tài chính mà người lao động nhận được từ doanh nghiệp”. Phạm vi nghiên cứu của luận văn về thù lao tài chính trong doanh nghiệp được tác giả tiếp cận theo 3 thành phần chính gồm: Tiền lương, khuyến khích tài chính và phúc lợi tài chính. Nội dung thù lao tài chính trong doanh nghiệp 1.
Tiền lương Tiền lương là một bộ phận quan trọng trong thù lao tài chính. Một số khái niệm liên quan đến tiền lương như sau: “Tiền lương là số lượng tiền mà người sử dụng lao động trả cho nhân viên theo giá trị sức lao động đã hao phí trên cơ sở thoả thuận” (Mai Quốc Chánh, Trần Xuân Cầu, 2010). Theo cách hiểu này, tiền lương có thể được trả dựa trên hao phí sức lao động của người lao động. [2, 102] Theo Đỗ Thị Tươi, Đoàn Thị Yến (2020) “Tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa chủ sử dụng lao động (hoặc đại diện của chủ sử dụng lao động) và người lao động, là số tiền mà chủ sử 14 dụng lao động trả cho người lao động khi người lao động thực hiện một công việc nhất định và đảm bảo đúng quy định của pháp luật”.
[14, 103] Theo Đoàn Thị Yến (2018), tiền lương trong doanh nghiệp là số tiền mà doanh nghiệp trả cho người lao động khi người lao động hoàn thành công việc trên cơ sở đã thỏa thuận giữa doanh nghiệp và người lao động và đảm bảo đúng quy định của pháp luật. [ 27, 104] Trong khuôn khổ luận văn, tác giả tiếp cận tiền lương trong doanh nghiệp là số tiền mà doanh nghiệp trả cho người lao động khi người lao động thực hiện công việc được giao, đó là số tiền trả hàng tháng. Để trả lương hiệu quả thì: - Tiền lương cần có cách tính toán đơn giản, dễ hiểu, rõ ràng để mọi người đều hiểu và kiểm tra được tiền lương của mình, hiểu được tiền lương mình nhận được là thoả đáng, hợp lý, phù hợp với công sức đóng góp. Từ đó, người lao động mới yên tâm làm việc, tận tuỵ với công việc.
- Tiền lương phải đảm bảo tái sản sản xuất sức lao động, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng tối thiểu của người lao động, đồng thời không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần người lao động. - Tiền lương trả cho người lao động phải căn cứ vào năng lực, sự cố gắng nỗ lực, căn cứ vào những đóng góp của người lao động đối với hoạt động phát triển của doanh nghiệp. Từ đó kích thích lao động làm việc hăng say, không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng công việc. - Hệ thống tiền lương phải tuân thủ theo yêu cầu của Pháp luật và phải được thực hiện công bằng giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành nghề sản xuất kinh doanh để hạn chế hiện tượng nhảy việc.
Tìm hiểu và tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về các vấn đề lao động trước khi xây dựng cơ chế trả lương là việc làm bắt buộc. Doanh nghiệp cần lưu ý đến các vấn đề như 15 mức lương tối thiểu Nhà nước quy định, lương thử việc, lương thời vụ, lương trong kỳ thai sản, ốm đau, nghỉ việc. Việc xây dựng cơ chế trả lương đúng đắn, mức lương cạnh tranh có tác dụng rất quan trọng trong tạo động lực lao động, vì tất cả mọi người đi làm để phục vụ cho đời sống vật chất và tinh thần của mình. Có thể nói tiền lương là động lực chủ yếu kích thích người lao động hăng say với công việc.
Tiền lương tạo ra sự thoả mãn trong công việc đối với người lao động, tiền lương phản ánh một phần vị thế của doanh nghiệp. Nếu tiền lương không phù hợp, thấp (không phản ánh đúng năng lực và kết quả làm việc, mức độ cống hiến của từng người lao động) có thể gây ra sự bất mãn, trì trệ sản xuất, ảnh hưởng đến thương hiệu doanh nghiệp, cũng như không tạo được thu hút nhân tài và giữ chân người lao động. Cách thức trả lương Về cách thức trả lương, theo Đỗ Thị Tươi (2015), trên quan điểm của thù lao lao động, có thể trả lương theo kết quả thực hiện công việc, theo đặc tính cá nhân người lao động, theo vị trí/chức danh công việc và trả lương hỗn hợp. Cụ thể như sau: - Phương pháp trả lương theo vị trí công việc: Là chính sách trả lương cho người lao động được xây dựng dựa trên vị trí, chức danh công việc trong hệ thống, bộ máy tổ chức của doanh nghiệp (Đỗ Thị Tươi, 2015).
Mục tiêu của chính sách trả lương này là hướng đến sự công bằng dựa trên đánh giá giá trị công việc hay còn gọi là định giá công việc để trả lương.