Chương 1: Cơ sở khoa học về thu hút sự tham gia của người dân vào hoạt động QLNN của UBND phường. - Chương 2: Thực trạng thu hút sự tham gia của người dân vào hoạt động QLNN của UBND phường trên địa bàn quận Thủ Đức. - Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện nhằm thu hút sự tham gia của người dân vào hoạt động QLNN của UBND phường trên địa bàn quận Thủ Đức. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THU HÚT SỰ THAM GIA CỦA NGƢỜI DÂN VÀO HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN PHƢỜNG 1.
Ủy ban nhân dân phƣờng và hoạt động quản lý nhà nƣớc 1. Ủy ban nhân dân phường Trong chương “Chính quyền địa phương” của Hiến pháp năm 2013 cũng đã đề cập đến hai nhóm cơ quan là HĐND và UBND. Chính quyền địa phương hiện nay được tổ chức thành ba cấp hành chính: cấp tỉnh, thành; cấp quận, huyện; cấp xã, phường, thị trấn. Chính quyền tại phường hay còn gọi là chính quyền cấp cơ sở là cấp hành chính thấp nhất trong hệ thống các cấp hành chính ở Việt Nam.
Ở nước ta, chính quyền cơ sở gồm xã, phường, thị trấn gắn liền với ba tính chất khác nhau: xã là chính quyền cơ sở ở vùng nông thôn; phường là chính quyền cơ sở khu vực đô thị; thị trấn là chính quyền cơ sở ở khu vực nông thôn nhưng nó là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở một huyện. Thuật ngữ chính quyền tại phường được sử dụng nhiều trong các văn bản pháp lý tuy nhiên lại chưa có một định nghĩa chính thức về nó. Trong khuôn khổ luận văn, để thuận lợi cho việc nghiên cứu, luận văn đưa ra các hiểu như sau: Chính quyền tại phường là khái niệm dùng để chỉ hệ thống các cơ quan nhà nước ở địa phương bao gồm HĐND, UBND phường nhằm thực hiện hoạt động quản lý trên các lĩnh vực của đời sống xã hội tại địa phương. Hoạt động quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân phường Nhà nước được hình thành để thực hiện chức năng quản lý toàn xã hội.
QLNN cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên theo cách hiểu phổ biến hiện nay thì “QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính 8 quyền lực nhà nước, sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện nhằm phục vụ nhân dân, duy trì ổn định và phát triển xã hội”. Mỗi cấp hành chính sẽ thực hiện hoạt động QLNN theo những chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền đúng quy định của pháp luật. Các cơ quan của chính quyền địa phương được thiết lập để quản lý địa phương đảm bảo thống nhất, có hiệu quả Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên.
Hoạt động QLNN của chính quyền tại phường được thể hiện thông qua hoạt động quản lý của HĐND và UBND phường. Quản lý nhà nước của Hội đồng nhân dân phường (được thành lập từ tháng 5/2016) HĐND phường là cơ quan quyền lực nhà nước, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Chức năng của HĐND được quy định trong Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể hóa trong luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2013, gồm: Thứ nhất, HĐND phường quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước. Thứ hai, HĐND phường thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực HĐND, UBND; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của HĐND; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương.
Việc giám sát của HĐND phường bao gồm giám sát của HĐND tại kỳ họp; giám sát của Thường trực HĐND và giám sát của đại biểu HĐND. 9 Để thực hiện hai hoạt động trên, HĐND phường ban hành Nghị quyết để quyết định chủ trương, biện pháp lớn và giám sát việc thực hiện Nghị quyết. Hoạt động quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân phường UBND phường chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND phường nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn. UBND phường thực hiện chức năng QLNN ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong hoạt động QLNN.
UBND phường thực hiện hoạt động QLNN đối với các lĩnh vực khác nhau của đời sống ở địa phương, gồm các hoạt động sau: Hoạt động quản lý nhà nước. Xây dựng các kế hoạch, quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Ban hành các văn bản quy pháp pháp luật nhằm thể chế hóa Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, Nghị quyết của HĐND phường. Hướng dẫn và tổ chức thực hiện Hiến pháp và pháp luật, các kế hoạch, quy hoạch, chiến lược… Tiến hành hoạt động thanh tra, kiểm tra việc thực hiện Hiến pháp pháp luật, các quy hoạch chiến lược. Tiến hành xử lý, cưỡng chế hành chính đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định của Nhà nước.
UBND phường được phép ban hành các Quyết định, Chỉ thị để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật. 10 Trong hoạt động QLNN của chính quyền tại phường thì mỗi cơ quan đều có vị trí và vai trò nhất định. Trong đó HĐND với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước sẽ thực hiện chức năng quyết định những vấn đề quan trọng tại địa phương và thực hiện chức năng giám sát đối với hoạt động của UBND phường. UBND phường sẽ trực tiếp triển khai việc thực hiện pháp luật ở địa phương, tổ chức quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người dân địa phương.
Thẩm quyền, vai trò trách nhiệm của Ủy ban nhân dân phƣờng trong việc thu hút sự tham gia của ngƣời dân vào hoạt động quản lý nhà nƣớc 1. Quyền và nghĩa vụ của người dân trong việc tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước tại Ủy ban nhân dân phường Điều 28, Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước”. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của người dân. Quyền tham gia QLNN và xã hội của người dân thể hiện tính trực tiếp của quyền lực nhân dân trong đời sống quản lý.
Để thực hiện quyền cơ bản này, pháp luật đã quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của người dân trong các lĩnh vực khác nhau của quản lý hành chính nhà nước. Trước hết, đó là quyền tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và của địa phương, quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước. Trong thực tế, đây là hình thức đã trở thành thông lệ trong đời sống sinh hoạt chính trị xã hội. Mỗi khi quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và xã hội, trước khi thông qua quyết định, Nhà nước thường tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân.
Với hình thức này, nhân dân tự mình trực tiếp đóng góp ý kiến vào các 11 chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Bằng cách đó mà ý chí, trí tuệ của nhân dân ảnh hưởng đến các quyết định của Nhà nước. Thực tiễn xác nhận đó là một kinh nghiệm, một hình thức dân chủ được Nhà nước ta thực hiện một cách nhất quán và có hiệu quả. Sau nữa, cùng với sự phát triển của xã hội, các quyền và nghĩa vụ của người dân ngày càng được tôn trọng và bảo đảm thực hiện một cách đầy đủ hơn.
Người dân được mở rộng quyền tham gia mạnh mẽ vào các quá trình ra quyết định, các hoạt động quản lý nhà nước nhằm đóng góp những ý kiến quan trọng cho việc xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội. Bảo đảm sự tham gia của người dân vào công việc quản lý nhà nuớc đã được ghi trong Hiến pháp, những bộ luật: luật Bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân, luật Tổ chức Quốc hội, luật Tổ chức Chính phủ, luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân, luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, luật Khiếu nại, tố cáo, luật Phòng, chống tham nhũng. Trong đó, quy định cụ thể các điều kiện, hình thức, phương thức để nhân dân tham gia vào hoạt động quản lý của Nhà nước như việc các đại biểu, các cơ quan nhà nước phải tiếp nhận và giải quyết các đề xuất, kiến nghị, khiếu nại của người dân, tiếp thu các ý kiến đóng góp vào các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Các luật về các tổ chức chính trị - xã hội như luật Công đoàn, luật Thanh niên, luật Mặt trận Tổ quốc cũng cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội tham gia công việc quản lý nhà nước.
Chính phủ cũng đã có Nghị định số 29 ban hành Quy chế Dân chủ cơ sở, trong đó quy định các việc chính quyền cơ sở phải công khai xin ý kiến của nhân dân và quy định cụ thể các công việc mà người dân có quyền quyết định 12 tại địa phương. Như vậy, các văn bản pháp lý hiện hành đã quy định khá cụ thể các hình thức, phương thức tham gia của nhân dân trong việc quản lý, xây dựng các chính sách, pháp luật của Nhà nước. Người dân có thể tham gia xây dựng các chính sách, pháp luật thông qua đại biểu trong các cơ quan đại diện, các tổ chức chính trị - xã hội mà mình tham gia hoặc qua các phương tiện thông tin đại chúng.