Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ 1. Khái niệm thi hành án phạt tù Hình phạt tù (bao gồm: hình phạt tù có thời hạn và hình phạt tù chung thân) được quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam trong hệ thống hình phạt là hình phạt nghiêm khắc, vì người bị kết án phạt tù bị tước quyền tự do, bị cách ly khỏi xã hội và phải lao động, cải tạo trong môi trường riêng biệt dưới sự quản lý và giám sát của các cơ quan chức năng. Theo luật hình sự thì hình phạt tù có thời hạn là chế tài có ở hầu hết tất cả các điều luật được quy định trong phần riêng của Bộ luật Hình sự. Hình phạt tù có thời hạn là một trong các hình phạt thể hiện rõ nhất chính sách hình sự và nguyên tắc của Nhà nước đối với người phạm tội, đồng thời ngăn ngừa người phạm tội tiếp tục phạm tội, động viên, khuyến khích người phạm tội chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo, nhanh chóng để trở về hoà nhập với cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội.
Hình phạt tù có thời hạn là nhằm cách ly người phạm tội ra khỏi cộng đồng trong một khoảng thời gian nhất định, khi mà hành vi phạm tội của họ buộc phải tách họ ra khỏi cộng đồng một thời gian để ngăn ngừa tội phạm và giáo dục người phạm tội. [43] Tuy hình phạt tù có thời hạn trong luật hình sự Việt Nam là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc, nhưng nó không mang tính chất trả thù hay hành hạ người bị kết án mà có ý nghĩa cải tạo, giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội. Để làm rõ khái niệm thi hành án phạt tù có thời hạn, trước hết cần làm rõ khái niệm thi hành án. Theo Đại từ điển tiếng Việt, thi hành là "thực hiện điều đã chính thức quyết định".
Như vậy, bản án phạt tù có thời hạn của 8 Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thực hiện đúng với nội dung của bản án trên thực tế. Tại khoản 3 Điều 3 của Luật Thi hành án hình sự năm 2010 định nghĩa: "Thi hành án phạt tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc phạm nhân phải chịu sự quản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo để họ trở thành người có ích cho xã hội". Từ những phân tích trên có thể hiểu, thi hành án phạt tù có thời hạn là việc đưa bản án phạt tù có thời hạn đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế, tức là buộc người bị kết án phạt tù có thời hạn phải chấp hành hình phạt tại trại giam, trại tạm giam trong thời hạn nhất định được quy định trong bản án. Thi hành án phạt tù buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tù.
Vì thế, mọi phương pháp, hình thức tác động đến việc chấp hành hình phạt tù của người bị kết án phạt tù đều dẫn đến mục đích trừng phạt và giáo dục, nhằm cải tạo người bị kết án, giúp họ nhận ra lỗi lầm và có thói quen của người lao động, người lương thiện, tránh xa những mưu toan và hành động phạm tội, cho nên hiệu quả cuối cùng của công tác này là ở chỗ: Người mãn hạn tù đạt được những phẩm chất mới như đã nêu trên. Từ những phân tích trên, có thể hiểu rằng, thi hành án phạt tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật buộc người bị kết án phạt tù theo bản án đã có hiệu lực pháp luật phải chấp hành hình phạt tại trại giam, trại tạm giam trong thời hạn nhất định được quy định trong bản án. Như vậy, thi hành án phạt tù có những đặc điểm sau: Thứ nhất, thi hành án phạt tù là hoạt động của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền thực hiện trách nhiệm đưa những người bị kết án tù có thời hạn đi chấp hành hình phạt tại trại giam và tổ chức thực hiện biện pháp giáo dục họ nhanh chóng trở thành người lương thiện. Thi hành án phạt tù là 9 quá trình diễn ra sau quá trình xét xử của Toà án.
Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật là căn cứ để tiến hành các hoạt động thi hành án phạt tù. Vì vậy, có thể nói không có kết quả của hoạt động xét xử thì cũng không có hoạt động thi hành án phạt tù. Tuy nhiên, thi hành án phạt tù lại không phải là giai đoạn tố tụng (cuối cùng); Bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không phải là căn cứ duy nhất để tiến hành các hoạt động thi hành án phạt tù; thi hành án phạt tù đòi hỏi những nguyên tắc, thủ tục và cách thức hoạt động riêng. Ví dụ, để có thể tiến hành các hoạt động thi hành án phạt tù thì phải có quyết định thi hành án phạt tù và phải dựa trên những quy định cụ thể về thi hành án phạt tù.
Thứ hai, thi hành án phạt tù là hoạt động được tiến hành theo một trình tự pháp lý, tức là được tiến hành theo trình tự, thủ tục của pháp luật về thi hành án phạt tù (Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành án hình sự). Thi hành án phạt tù là dạng hoạt động có tính chấp hành, vì thi hành án phạt tù chỉ được tiến hành trong khuôn khổ pháp luật quy định nhằm thực hiện các các bản án và quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, ở đây tính chất chấp hành trong thi hành án phạt tù có những nét riêng thể hiện ở chỗ: 1) Nó chủ yếu do cơ quan tư pháp (theo nghĩa rộng) hay đối tượng phải thi hành án tiến hành; 2) Căn cứ pháp lý để tiến hành các hoạt động thi hành án phạt tù bao gồm các quy định của pháp luật (được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật) và bản án, quyết định của Toà án (văn bản áp dụng pháp luật) đã có hiệu lực pháp luật; 3) Mục đích cuối cùng của thi hành án phạt tù là bảo đảm cho các nội dung của các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật được thực thi chứ không phải là ra các văn bản áp dụng pháp luật hoặc các quyết định có tính điều hành, nét đặc trưng của cơ quan hành chính. 10 Trong thi hành án phạt tù, phương pháp thuyết phục, giáo dục có ý nghĩa quan trọng nhưng phương pháp mệnh lệnh, bắt buộc phải thi hành có tính chất đặc thù (trong thi hành án hình sự đó là phương pháp chủ yếu và có tính tiên quyết).
Điều này xuất phát từ tính chất của thi hành án phạt tù như đã nêu ở trên. Ngay cả trong trường hợp người phải thi hành án phạt tù tự nguyện thi hành nghĩa vụ của mình thì cũng là vì họ hiểu rằng Toà án đã phán xét đúng, sự thực khách quan đã được làm sáng tỏ (nghĩa là trước đó họ đã không tự nguyện) và nếu không thi hành thì họ sẽ phải chịu các biện pháp cưỡng chế của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Có nhiều cơ quan tham gia vào quá trình thi hành án phạt tù, nhất là trong việc tổ chức thi hành các bản án và quyết định của Toà án có những nội dung phức tạp. Thực tế đã cho thấy rõ, trong thi hành án phạt tù vai trò của các cơ quan thi hành án rất quan trọng.
Nhưng trong nhiều trường hợp nếu không có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tư pháp với cơ quan hành pháp thì việc thi hành các bản án khó đạt được kết quả tốt. Có thể nói, pháp luật thi hành án phạt tù là một chế định quan trọng của Luật thi hành án hình sự trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Các quy định của pháp luật thi hành án phạt tù hiện nay được quy định rải rác trong các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: BLHS, BLTTHS, Nghị định 117/2011/NĐ-CP ngày 15/12/2011 Quy định về tổ chức quản lý phạm nhân và chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt, chăm sóc y tế đối với phạm nhân.2 Mục đích, ý nghĩa việc thi hành án phạt tù Việc thi hành án phạt tù nhằm đạt được nhiều mục đích khác nhau. Áp dụng hình phạt tù không chỉ đơn thuần là sự trừng trị của Nhà nước, buộc người phạm tội phải chịu sự cưỡng chế nhất định về thể chất và tinh thần, mà còn tạo điều kiện cho họ có thời gian hồi tâm suy nghĩ, tự cải tạo mình để trở thành người tốt.
Mác: “Hình phạt chẳng qua là một 11 phương tiện tự vệ của xã hội đối với những hành vi xâm phạm điều kiện tồn tại của nó, không kể đó là những điều kiện như thế nào”. Việc người phạm tội phải thi hành án phạt tù còn thể hiện sự “phản ứng tự vệ của xã hội”. Tuy nhiên, việc thi hành án phạt tù đối với người phạm tội không chỉ là trừng phạt mà mục đích chính là nhằm cải tạo, giáo dục họ. Một trong những mục đích của hình phạt tù là giáo dục người phạm tội được quy định tại Điều 31 của BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, theo đó: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm”.
Mục đích của hình phạt tù là thành tố có tính chất quyết định, quy định nội dung, phương pháp, hình thức, tiêu chí, biện pháp kiểm tra, đánh giá kết quả của thi hành án hình sự. Mục đích của hình phạt tù có đạt được hay không phụ thuộc vào Cơ quan thi hành án hình sự và người bị kết án phạt tù, đặc biệt là phụ thuộc vào việc cán bộ, nhân viên Cơ quan thi hành án hình sự có ý thức được đầy đủ ý nghĩa của mục đích của hình phạt tù hay không. Do đó, quán triệt mục đích của hình phạt tù trong hoạt động thi hành án phạt tù nói chung, mục đích giáo dục người phạm tội nói riêng là nhiệm vụ thường xuyên của các Cơ quan thi hành án hình sự. [46] Từ thực tiễn cho thấy, trong nhiều năm qua, Nhà nước ta đã cải tạo thành công được hàng ngàn người phạm tội.
Bằng lao động đã giúp nhiều phạm nhân hoàn lương, trở thành người có ích cho xã hội.