Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực lao động cho công nhân sản xuất trong doanh nghiệp. Chương 2: Đánh giá thực trạng tạo động lực lao động cho công nhân sản xuất tại Công ty Cổ phần Thương Mại Và Phát triển quốc tế IPM Chương 3: Giải pháp tạo động lực lao động cho công nhân sản xuất tại Công ty Cổ phần Thương Mại Và Phát triển quốc tế IPM. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG CHO CÔNG NHÂN SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm có liên quan 1.
Nhu cầu “ Nhu cầu” đƣợc nhắc đến là đối tƣợng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa học nghiên cứu sinh học và xã hội. Nhu cầu là một hiện tƣợng tâm lý của con ngƣời: là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con ngƣời về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Ví dụ: nhu cầu về thức ăn, thức uống, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, môi trƣờng sống, điều kiện làm việc. Theo Bùi Thị Xuân Mai: “Nhu cầu là những đòi hỏi của cá nhân để tồn tại và phát triển, nhu cầu thường là những đòi hỏi đi từ thấp tới cao, nhu cầu có tính phong phú, đa dạng, thay đổi theo bối cảnh (cá nhân và xã hội…)” Nhu cầu đƣợc hiểu là trạng thái tâm lý mà con ngƣời mong muốn thỏa mãn về một cái gì đó và mong muốn đƣợc đáp ứng nó, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con ngƣời cũng nhƣ cộng đồng và tập thể xã hội.
Nhu cầu có thể chia thành 2 nhóm: nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần. Nhu cầu vật chất gắn liền với những mong muốn về vật chất để tồn tại và phát triển của con ngƣời. Nhu cầu tinh thần gắn liền với sự hài lòng thỏa mãn về tâm lý. Ngày nay với xu hƣớng phát triển của nền kinh tế, việc tìm hiểu đúng nhu cầu của công nhân sản xuấtlà một cách tiếp cận hữu hiệu để nhà quản trị có những cách thức phù hợp giúp thỏa mãn nhu cầu của ngƣời lao động; tạo môi trƣờng làm việc thuận lợi để công nhân sản xuấtyên tâm làm việc, cống hiến cho doanh nghiệp.
Động cơ “Động cơ lao động của công nhân sản xuấtxuất phát từ việc mong muốn thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu cơ bản của công nhân sản xuấtnhƣ: nhu cầu ăn, ở, đi lại, phát triển, đƣợc tôn trọng…”. Theo Vũ Dũng “Động cơ là cái thúc đẩy hành động, gắn liền với việc thỏa mãn nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể”. Động cơ lao động của mỗi cá nhân khác nhau. Với công nhân sản xuấtcó động cơ lao động cao, họ sẽ cố gắng nhiều hơn trong công việc và sẽ có năng suất, chất lƣợng cao và ngƣợc lại, khi không có hoặc có ít động cơ lao động, năng suất hiệu quả công việc sẽ thấp.
Lợi ích “Lợi ích là mức độ đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần do công việc đó tạo ra”. Theo quan niệm trên thì lợi ích đƣợc hiểu là thành quả mà công nhân sản xuấtnhận đƣợc bằng vật chất hay tinh thần thông qua bản thân khi họ tham gia sản xuất hoặc các hoạt động khác trong tổ chức cũng nhƣ trong xã hội. Lợi ích có vai trò to lớn trong hoạt động quản lý, trong hoạt động lao động của con ngƣời, tạo ra động lực mạnh mẽ cho các hoạt động của con ngƣời, buộc con ngƣời phải động não, cân nhắc, tìm tòi nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình. Các nhà quản trị doanh nghiệp khi tìm hiểu đƣợc tâm lý lợi ích của công nhân sản xuấtsẽ có những biện pháp phù hợp để khuyến khích công nhân sản xuấthăng say làm viêc đạt hiệu quả công việc tốt nhất.
Công nhân sản xuất Công nhân trực tiếp sản xuất bao gồm công nhân chính và học nghề Theo Trần Xuân Cầu (2002): “Công nhân trực tiếp sản xuất là người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm của doanh nghiệp”. 10 Học nghề là những ngƣời học tập kỹ thuật sản xuất của một nghề dƣới sự hƣớng dẫn của công nhân lành nghề. Lao động của họ cũng góp phần trực tiếp vào việc tạo ra sản phẩm của doanh nghiệp. Động lực lao động * Khái niệm: Theo Nguyễn Văn Điềm & Nguyễn Ngọc Quân (2012) thì “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức” Theo Bùi Anh Tuấn – Phạm Thúy Hƣơng (2009) “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao”.
* Bản chất của động lực lao động - Động lực lao động luôn gắn liền với một công việc, một tổ chức, một môi trƣờng làm việc cụ thể. Điều đó có nghĩa là bạn sẽ không thể xây dựng đƣợc một chƣơng trình tạo động lực cho nhân viên của mình nếu bạn chƣa hiểu rõ công việc của họ, mối quan hệ giữa họ với tổ chức. - Động lực lao động là những kích thích xuất phát từ phía bên trong bản thân công nhân sản xuấtnhƣng động lực lao động không phải là một đặc điểm tính cách cá nhân nghĩa là không có ai sinh ra là đã có sẵn tính động lực lao động hay không có tính động lực. Và vì thế, đừng nghĩ rằng bạn không thể can thiệp vào quá trình tạo động lực cho công nhân sản xuấtcũng nhƣ đừng bi quan khi thấy các nhân viên của mình không có động lực trong lao động.
Bạn phải hành động ngay, hãy chủ động tìm biện pháp tạo động lực cho họ. - Động lực lao động luôn mang tính tự nguyện. Điều này đƣợc thể hiện thông qua sự hăng say làm việc hết mình, làm việc một cách có chủ đích, hoàn toàn tự nguyện, không bị chịu áp lực hoặc sức ép nào cả từ phía ngƣời sử dụng lao động. 11 Vì thế, là một nhà quản trị bạn cần nhận thức rõ sự khác biệt giữa hành vi lao động hết mình của công nhân sản xuấtdo chịu một sức ép nào đó từ tổ chức hay do sự tự nguyện của bản thân họ để biết rằng khi nào thì công nhân sản xuấtcó động lực để có biện pháp ứng xử cho phù hợp.
- Động lực lao động là nguồn gốc dẫn đến tăng năng suất lao động cá nhân và sản xuất kinh doanh có hiệu quả trong điều kiện các nhân tố khác không đổi. Tuy nhiên cũng cần hiểu rằng không phải cứ có động lực lao động là dẫn đến tăng năng suất lao động cá nhân vì điều đó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ: Trình độ, tay nghề của ngƣời lao động, các phƣơng tiện và nguồn lực để thực hiện công việc. Và cũng cần hiểu rằng công nhân sản xuấtkhông có động lực lao động thì vẫn có thể hoàn thành công việc thế nhƣng chúng ta cũng thấy rằng sự gắn bó, nhiệt huyết của họ với Công ty là không nhiều. Họ không thể là những nhân viên trung thành, tài nguyên quý giá của Công ty.
Tạo động lực lao động cho công nhân sản xuất Theo Lê Thanh Hà: “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách hành xử của tổ chức, nhà quản lý để tạo ra sự khát khao, tự nguyện của công nhân sản xuất buộc họ phải nỗ lực, cố gắng phấn đấu nhằm đạt được các mục tiêu mà tổ chức đề ra. Các biện pháp được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích về tài chính, phi tài chính, cách hành xử của tổ chức được thể hiện ở điểm tổ chức đó đối xử lại với công nhân sản xuấtnhư thế nào”. Theo Bùi Anh Tuấn: “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến công nhân sản xuấtnhằm làm cho công nhân sản xuấtcó động lực trong làm việc”. Từ các khái niệm trên có thể hiểu rằng tạo động lực lao động cho công nhân sản xuất chính là việc các nhà quản trị vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp cách thức quản lý tác động tới công nhân sản xuất nhằm làm 12 cho công nhân sản xuất có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn đƣợc đóng góp cho tổ chức, doanh nghiệp.
Một số học thuyết liên quan đến tạo động lực lao động 1. Học thuyết nhu cầu của Abarham Maslow (1908-1970) Học thuyết về tạo động lực đƣợc biết đến nhiều nhất là học thuyết thứ bậc nhu cầu của Abraham Maslow. Học thuyết của ông căn cứ vào các nhu cầu khác nhau của con ngƣời và chia thành năm bậc căn cứ vào tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trƣớc sau. Săp xếp các thứ bậc nhƣ sau: Sơ đồ 1.
Tháp nhu cầu của Maslow (Nguồn: Lê Thanh Hà, Giáo trình quản trị nhân lực tập II, năm 2009) - Nhu cầu tự nhiên: Các nhu cầu này nằm ở vị trí thấp nhất của hệ thống thứ bậc nhu cầu của Maslow đảm bảo để công nhân sản xuấttồn tại. Nhu cầu này bao gồm các nhu cầu cơ bản của con ngƣời nhƣ: ăn uống, ngủ, chỗ vệ sinh…đây là những nhu cầu cơ bản nhất của con ngƣời để hỗ trợ cho họ trong quá trình làm việc và trong cuộc sống ngoài công việc. 13 - Nhu cầu an toàn: Nhu cầu an toàn của công nhân sản xuấtxuất hiện khi nhu cầu sinh lý của họ đã đƣợc đáp ứng. Nhu cầu an toàn của họ thể hiện ở những mặt sau: công việc ổn định, đƣợc tham gia đầy đủ các loại bảo hiểm theo quy định của nhà nƣớc, điều kiện làm việc an toàn không anh hƣởng đến sức khỏe, ở nơi làm việc không bị ai xâm hại.
- Nhu cầu xã hội: nhu cầu này mặc dù nằm ở sau hai nhu cầu ở trên tuy nhiên nhu cầu này rất quan trọng, nếu nhƣ nhu cầu này của công nhân sản xuấtkhông đƣợc thỏa mãn thì có thể làm cho công nhân sản xuấtlàm việc trong tinh thần căng thẳng dẫn đến hiệu suất công việc không cao. Nhu cầu này của công nhân sản xuấtlà trong quá trình làm việc ở doanh nghiệp công nhân sản xuấtmuốn đƣợc giao tiếp, gặp gỡ, làm việc với những công nhân sản xuấtở những phòng ban khác trong doanh nghiệp. - Nhu cầu được tôn trọng: Khi nhu cầu xã hội đƣợc thỏa mãn có nghĩa là trong tổ chức công nhân sản xuấtđã có những kênh giao tiếp nhất định, thì lúc này nhu cầu đƣợc tôn trọng, đƣợc thừa nhận đối với sự thành đạt , tài năng, năng lực cùa công nhân sản xuấtsẽ xuất hiện.