CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Tạo động lực làm việc cho người lao động là một trong những yếu tố quan trọng nhất của quản trị nhân lực. Tạo động động lực của người lao động sẽ giúp cải thiện, nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh của công ty.
Vì vậy, đây là vấn đề rất đáng được quan tâm nghiên cứu. Một số trình nghiên cứu về tạo động lực làm việc cho người lao động ở nước ngoài như sau: Theo cách tiếp cận nội dung, các học thuyết điển hình khẳng định động lực lao động được sinh ra từ nhu cầu như thuyết nhu cầu của Abraham Maslow (1943), thuyết hai nhân tố của Fridetick Herzberg (1959), thuyết ba nhu cầu của David McClelland (1961). Các tác giả theo thuyết nội dung đều kết luận cơ sở tạo nên động lực của con người chính là nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu. Vì vậy, để tạo động lực làm việc, các nhà quản lý cần nắm bắt được nhu cầu của người lao động là gì.
Từ đó, sử dụng những biện pháp, chính sách nhằm thỏa mãn nhu cầu đó. Nghiên cứu của Kenneth S. Kovach (1987) đã đưa ra mô hình mười yếu tố ảnh hưởng tới công tác tạo động lực cho NLĐ. Mô hình này do Viện Quan hệ lao động New York xây dựng lần đầu tiên vào năm 1946 với đối tượng nhân viên trong ngành công nghiệp.
Sau đó, mô hình này được phổ biến rộng rãi và được nhiều tổ chức, nhà nghiên cứu thực hiện lại nhằm khám phá ra các yếu tố ảnh hưởng tới công tác động lực cho nhân viên làm việc trong các ngành công nghiệp khác nhau. Mô hình mười yếu tố ảnh hưởng tới công tác tạo động lực cho NLĐ của Kenneth S.Kovach bao gồm: công việc thú vị; được công nhận đầy đủ công việc đã làm; sự tự chủ trong công việc; công việc ổn định: thể hiện công việc ổn định, nhân viên không phải lo lắng đến giữ việc làm; lương cao; sự thăng tiến và phát triển nghề nghiệp; điều kiện 6 làm việc tốt; sự gắn bó của cấp trên đối với nhân viên; xử lý kỷ luật khéo léo, tế nhị; sự giúp đỡ của cấp trên để giải quyết vấn đề cá nhân. Nghiên cứu Wiley (1997 – Factors that motivate me): 10 yếu tố ảnh hưởng tới động lực làm việc của nhân viên được mô tả bao gồm: sự đánh giá đầy đủ công việc; cảm nhận bổn phận cá nhân đối với tổ chức; sự đồng cảm với cá nhân người lao động; đảm bảo việc làm; thu nhập; sự hứng thú trong công việc; thăng tiến và phát triển; trung thành cá nhân đối với nhân viên; điều kiện làm việc; kỷ luật làm việc. Nghiên cứu của Umar Auwal (2017) đã điều tra ảnh hưởng của động lực đến hiệu suất của công nhân xây dựng ở đô thị Bauchi, Nigeria.
Dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát bảng câu hỏi từ 102 công nhân xây dựng được chọn ngẫu nhiên từ dân số có thể tiếp cận ở đô thị Bauchi. Dựa trên mẫu tổng thể, các yếu tố tạo động lực bên ngoài như lương, thưởng, phúc lợi và thăng tiến của nhân viên, v., được xếp hạng cao là những yếu tố tạo động lực quan trọng nhất. Tuy nhiên, các yếu tố động lực nội tại như sự công nhận, ra quyết định, trách nhiệm, sáng tạo và sử dụng khả năng, v. cũng được coi là quan trọng.
Nghiên cứu của Rebecca Eliasson Simon Kastari (2020) chỉ ra rằng tiền lương là một trong những yếu tố quan trọng tạo động lực làm việc cho người lao động nhưng nó không được coi là yếu tố duy nhất. Hạnh phúc và sự gắn kết cũng có tác động lớn đến động lực làm việc cho người lao động. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước Thực tế, đã có một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam liên quan đến đề tài tạo động lực làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp xây dựng. (i) Về nội dung tạo động lực làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp xây dựng, tựu trung lại, có thể nhóm thành 4 chủ điểm chính như sau: Một là, các nghiên cứu về tạo động lực cho NLĐ từ cải thiện chế độ lương, thưởng.
Hai là, các nghiên cứu về tạo động lực cho NLĐ từ cải thiện việc đánh giá công bằng, dân chủ, khách quan. Ba là, các nghiên cứu về tạo động lực cho NLĐ từ cải thiện đào tạo nâng cao trình độ. 7 Bốn là, các nghiên cứu về tạo động lực từ việc nâng cao hình ảnh Công ty trong mắt người lao động và cộng đồng;. Liên quan tới chủ điểm tạo động lực cho NLĐ từ cải thiện chế độ lương, thưởng gồm các nghiên cứu điển hình như: Trần Thị Thu (2018) đã đánh giá kết quả tạo động lực cho NLĐ thông qua chế độ lương thưởng tuy đã đáp ứng được yêu cầu chi tiêu của NLĐ nhưng chưa thực sự tạo động lực mạnh mẽ cho người lao động.
Việc trả lương cho NLĐ tại công ty gắn với chức danh công việc và hệ số hoàn thành công việc. Việc đánh giá chất lượng công việc còn chủ quan, dựa trên ý kiến của người đánh giá, chưa có trao đổi giữa người được đánh giá và người đánh giá. Tiến trình tăng lương và xét tăng lương còn chưa có sự thông thoáng, các chỉ tiêu chưa rõ ràng. Một số loại phụ cấp theo đánh giá quả NLĐ là thiếu công bằng trong chi trả cho các bộ phận, Công ty chưa có chế độ phụ cấp độc hại phù hợp với điều kiện thực tế, theo quy định của nhà nước thì NLĐ phải được trợ cấp an toàn do độc hại nghề nghiệp.
Nguyễn Mai Ly (2021) đã kết luận chính sách tiền lương và khen thưởng, kỷ luật có tác động thuận chiều và mạnh nhất đến động lực làm việc cho NLĐ trong doanh nghiệp. Từ đó, tác giả đề xuất giải pháp xây dựng mức lương thưởng dựa theo 4 cấp độ tăng dần: Cấp độ 1: thang bảng lương dựa trên bằng cấp, cấp độ 2: đãi ngộ theo mức độ hoàn thành công việc, cấp độ 3: đãi ngộ theo năng lực, cấp độ 4: các gói đãi ngộ có khả năng cạnh tranh quốc tế, theo giá trị công việc mang lại cho công ty. Các nghiên cứu này đã bàn và làm rõ mức độ ảnh hưởng của chính sách tiền lương, thưởng đến động lực làm việc cho NLĐ trong doanh nghiệp và khẳng định lương, thưởng là yếu tố có tác động thuận chiều và mạnh nhất đến động lực làm việc cho NLĐ trong doanh nghiệp. Liên quan tới chủ điểm cải thiện việc đánh giá công bằng, dân chủ, khách quan,.
gồm các nghiên cứu điển hình như: Nguyễn Thu Linh (2019) đã đánh giá kết quả tạo động lực làm việc cho NLĐ thông qua việc đánh giá kết quả công bằng, dân chủ và kết luận khoảng 30% NLĐ cho rằng, họ ít có cơ hội thăng tiến. Phần lớn những người trong số này rơi vào độ 8 tuổi trên 40 tuổi. 30% trong số người phỏng vấn cho rằng Công ty chưa thực sự công bằng trong đánh giá công việc và luân chuyển cán bộ. Đánh giá năng lực công bằng sẽ tạo ra động lực để nhân viên nỗ lực, ngược lại sẽ triệt tiêu động lực phấn đấu của cán bộ công nhân viên.
Bên cạnh đó, có 90% nhân viên có thái độ tích cực trong công việc. Tuy nhiên, họ chưa hài lòng về công việc tại Công ty TNHH xây lắp Vĩnh Tường, lý do chủ yếu là những lợi ích họ nhận được từ Công ty chưa thỏa đáng. Nguyễn Thị Hiền (2021) đã chỉ ra hạn chế trong công tác tạo động lực tại Công ty cổ phần xây dựng số 12 là do Công ty chưa xây dựng được bản mô tả công việc, định mức lao động, tiêu chuẩn đánh giá kết quả thực hiện công việc. Từ đó dẫn tới công tác đánh giá hiệu quả công việc và tính lương khoán cho người lao động trực tiếp gặp nhiều khó khăn và thiếu chính xác.
Việc thiếu tiêu chuẩn đánh giá kết quả thực hiện công việc làm cho người lao động lúng túng không biết mình đang làm việc có hiệu quả không và nhiều người lao động nghĩ mình chưa được trả lương xứng đáng với công sức đã bỏ ra. Trần Thị Chi (2021) đã chỉ rõ hệ thống đánh giá thực hiện công việc của Tổng công ty 789 được tập trung và tinh thần làm việc, trình độ và năng lực cá nhân. Các chỉ tiêu đánh giá thực hiện khá chung chung và mang tính hình thức vì chưa có chỉ tiêu đánh giá cụ thể và kết quả đánh giá chỉ để chia lương, xét thưởng và nó được thực hiện hàng tháng. Giải pháp tác ra đưa ra là Tổng Công ty 789 nên tiến hành đánh giá thực hiện công việc thường xuyên theo tháng, theo quý, theo năm hay theo dự án để có biện pháp khuyến khích kịp thời người lao động làm việc tốt hơn.
Tổng Công ty cũng nên thiết kế bảng đánh giá thực hiện công việc theo mẫu chung theo từng bộ phận ví dụ theo các mảng như khối lượng công việc, chất lượng công việc, thời gian, tiến độ, trách nhiệm, chuyên môn và khả năng làm việc theo nhóm. Các nghiên cứu này đã bàn và làm rõ tầm quan trong của việc đánh giá và công nhận những nỗ lực làm việc thông qua kết quả làm việc đối với động lực làm việc của NLĐ. Phần lớn các doanh nghiệp còn thực hiện các chỉ tiêu đánh giá công việc mang tính hình thức, chưa có chỉ tiêu cụ thể, dẫn đến NLĐ chưa được công nhận xứng đáng. 9 (i) Liên quan tới chủ điểm cải thiện đào tạo nâng cao trình độ gồm các nghiên cứu điển hình như: Lưu Thị Hoa (2021) đã đánh giá hoạt động đào tạo có tác động cùng chiều và mạnh thứ 2 đối với động lực làm việc của NLĐ tại Công ty cổ phần xây lắp Thiên Tân, bởi khi NLĐ được tạo cơ hội để nâng cao trình độ chuyên môn, kĩ năng tay nghề thì họ sẽ có cơ hội thể hiện bản thân tốt hơn và họ sẽ nhận được những đãi ngộ về tài chính như lương, thưởng tốt hơn.
Trần Vĩnh Thụ (2022) đã tiến hành điều tra 348 nhân viên tại Công ty cổ phần xây dựng Hà Thu và kết quả khảo sát cho thấy: có đến 56,3% nhân viên có mong muốn được tham gia khóa đào tạo ngắn ngày liên quan đến lĩnh vực chuyên môn; 17,8% nhân viên có mong muốn được tham gia đào tạo các kĩ năng ngoại ngữ, giao tiếp.