chương 1 tác giả đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Tiếp theo trong chương 2 tác giả sẽ trình bày tổng quát các khái niệm về quản trị vốn luân chuyển, các nghiên cứu trước và bằng chứng thực nghiệm về sự tác động của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi. Hệ thống các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây có liên quan đến nghiên cứu về quản trị vốn luân chuyển, vì thế tác giả tiến hành phân tích, thừa hưởng mô hình và từ đó thiết lập các giả thiết nghiên cứu. Đồng thời xây dựng mô hình nghiên cứu quản trị vốn luân chuyển tác động đến khả năng sinh lợi.1 Lý thuyết về quản trị vốn luân chuyển và tác động của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi 2.1 Quản trị vốn luân chuyển Vốn luân chuyển đƣợc định nghĩa là khoản chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn.
Theo Phan Đình Nguyên (2013), biểu hiện dƣới hình thái vật chất của vốn luân chuyển là tài sản lƣu động. Tài sản lƣu động là những tài sản ngắn hạn và thƣờng xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh. Vốn luân chuyển theo nghĩa rộng là giá trị của toàn bộ tài sản lƣu động, là những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của công ty. Trong mỗi chu kỳ kinh doanh, chúng chuyển hoá qua tất cả các dạng tồn tại từ tiền mặt đến tồn kho, khoản phải thu và trở về hình thái cơ bản ban đầu là tiền mặt.
Với sự chuyển hoá nhanh nhƣ vậy, các hoạt động quản trị vốn luân chuyển chiếm gần nhƣ phần lớn thời gian và tâm trí của các nhà quản trị tài chính. Chính sách vốn luân chuyển hiệu quả phải đảm bảo giảm tối thiểu thời gian từ khi trả tiền mua nguyên vật liệu đến khi thu tiền bán tín dụng. Chu kỳ chuyển hóa tiền mặt bao gồm khoảng thời gian từ khi công ty thanh toán các khoản nợ đến khi thu tiền mặt. Trong khoảng thời gian đó, có các yếu tố sau đây: c 8 - Kỳ luân chuyển hàng tồn kho (ITID): là thời gian bình quân cần thiết để chuyển hoá nguyên vật liệu thành sản phẩm cuối cùng và bán cho ngƣời tiêu dùng.
Chi tiết ra, khoảng thời gian này gồm thời gian bình quân nguyên vật liệu ở trong kho, toàn bộ thời gian chu kỳ sản xuất, thời gian bình quân sản phẩm tồn kho. - Kỳ thu tiền bình quân (ACP): là khoảng thời gian để chuyển khoản phải thu thành tiền mặt, nghĩa là thời gian cần thiết để thu tiền từ khách hàng kể từ thời điểm ghi hóa đơn. Có thể ƣớc lƣợng đƣợc kỳ thu tiền bình quân, hay còn gọi là số ngày bán hàng. Cũng có thể tính bằng cách chia khoản phải thu cho doanh số bán tín dụng bình quân mỗi ngày.
- Kỳ thanh toán bình quân (APP): là độ dài thời gian từ khi mua nguyên vật liệu hay thuê lao động đến khi thanh toán cho họ. - Chu kỳ chuyển luân chuyển tiền mặt (CCC): bằng tổng thời gian từ khi chi tiền mặt đến khi nhận tiền mặt. Gitman (1974) đã kết luận rằng CCC là một thành phần quan trọng nhất trong việc quản trị vốn luân chuyển. Theo Jordan (2003), chu kỳ chuyển đổi tiền mặt đƣợc tính theo công thức sau: CCC = ACP + ITID – APP.
Mối quan hệ giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và chu kỳ kinh doanh đƣợc mô tả trong sơ đồ sau: Hàng tồn kho mua Hàng tồn kho bán Kỳ luân chuyển hàng tồn kho Kỳ thu tiền bình quân Thời gian Kỳ thanh toán bình quân Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt Tiền mặt trả chi hàng tồn Tiền mặt nhận Chu kỳ kinh doanh Hình 2.1 Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và chu kỳ kinh doanh (Jordan, 2003) c 9 2.2 Khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Theo Afza và Nazir (2007), quản trị vốn luân chuyển là một phần quan trọng trong công việc của nhà quản lý và có ảnh hƣởng trực tiếp đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Có nhiều tỷ số đặt ra để đo lƣờng khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Theo Nguyễn Minh Kiều (2012) tỷ số khả năng sinh lợi đƣợc thiết kế nhằm đo lƣờng khả năng sinh lợi của doanh nghiệp ở từng góc độ khác nhau tùy theo mục tiêu của nhà phân tích. Một số chỉ tiêu dùng để đo lƣờng khả năng sinh lợi nhƣ sau: - Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA – Return on assets) Lợi nhuận sau thuế ROA = Tổng tài sản ROA là một chỉ tiêu đo lƣờng khả năng sinh lợi trên 1 đồng vốn đầu tƣ vào công ty, nó cho biết khả năng sinh lợi trên 1 đồng vốn đầu tƣ vào công ty.
ROA của các công ty niêm yết có thể khác nhau và phụ thuộc nhiều vào ngành. Chỉ số này tƣơng đối phổ biến. - Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE – Return on equity) Lợi nhuận sau thuế ROE = Vốn chủ sở hữu ROE là tỷ số giữa lợi nhuận sau thuế và vốn chủ sở hữu, tính đƣợc bao nhiêu đồng lợi nhuận đƣợc sinh ra trên một đồng vốn chủ sở hữu. ROE càng cao, cổ phiếu đó càng nhận đƣợc sự quan tâm của nhà đầu tƣ.
- Tỷ suất EBITDA/Tổng tài sản (EBITDA Return On Assets Ratio) Lợi nhuận ròng + lãi vay + khấu hao EBITDA/Tổng tài sản = Tổng tài sản c 10 Tỷ số này cho biết 1 đồng tài sản thu về bao nhiêu đồng lợi nhuận. Cách tính này phản ánh một cách rõ ràng hơn về tình hình hoạt động của công ty vì nó đã loại bỏ các khoản chi phí có thể che đi những bƣớc tiến trong kinh doanh. Chỉ số này cũng rất hữu dụng trong việc đánh giá các công ty có cơ cấu vốn, mức thuế và chính sách khấu hao khác nhau. Dựa vào chỉ số này, các nhà đầu tƣ có thể xác định đƣợc lƣợng tiền mà một công ty mới mở hoặc công ty vừa cơ cấu lại có thể tạo ra trƣớc khi thanh toán cho chủ nợ và cơ quan thuế.
- Lợi nhuận gộp từ hoạt động kinh doanh trên tổng tài sản trừ tài sản tài chính Theo Albert Amponash Addae & Nyarko-Baasi (2013) lợi nhuận gộp từ hoạt động kinh doanh trên tổng tài sản trừ tài sản tài chính (GPA) đƣợc tính bằng công thức sau: Doanh thu thuần – Giá vốn hàng bán GPA = Tổng tài sản – Tài sản tài chính Trong đó: Tài sản tài chính là những tài sản có giá trị không dựa vào nội dung vật chất của nó (giống nhƣ bất động sản gồm nhà cửa, đất đai) mà dựa vào các quan hệ trên thị trƣờng. Nó bao gồm các công cụ tài chính nhƣ cổ phiếu, trái phiếu, tiền gửi ngân hàng, tiền tệ và các giấy tờ có giá khác. GPA là chỉ tiêu gắn liền với hoạt động “thành công” hay “thất bại” của hoạt động kinh doanh, không tính đến hoạt động tài chính và chỉ tiêu này có mối quan hệ chặt chẽ với các chỉ tiêu hoạt động khác của doanh nghiệp.3 Tác động của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp 2.1 Tác động của quản trị khoản phải thu đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp c 11 Khoản phải thu là số tiền khách hàng nợ doanh nghiệp do mua chịu hàng hóa hoặc dịch vụ. Hầu hết, các doanh nghiệp đều phát sinh các khoản phải thu nhƣng với mức độ khác nhau, từ đó có thể thu hồi đƣợc công nợ khó đòi.
Việc kiểm soát khoản phải thu liên quan đến khả năng sinh lợi cũng nhƣ rủi ro của doanh nghiệp. Có hai trƣờng hợp xảy ra khi bán chịu hàng hóa, thứ nhất nếu không bán chịu hàng hóa sẽ mất cơ hội bán hàng, từ đó lợi nhuận sẽ giảm. Còn nếu bán chịu hàng hóa quá nhiều thì sẽ phát sinh nguy cơ tồn tại các khoản nợ khó đòi. Dƣới góc độ quản trị, các giám đốc tài chính có thể gia tăng giá trị cho vốn cổ đông bằng cách tác động đến việc đầu tƣ vốn luân chuyển vào các khoản phải thu.
Nếu quản trị tốt khoản phải thu sẽ làm tăng giá trị cổ đông, quản trị kém hiệu quả sẽ có tác dụng ngƣợc lại. Các yếu tố tác động đến khoản phải thu thƣờng là giá bán, khối lƣợng sản phẩm, chất lƣợng sản phẩm và chính sách bán chịu. Trong các yếu tố này, chính sách bán chịu ảnh hƣởng mạnh nhất đến khoản phải thu và sự kiểm soát của giám đốc tài chính. Giám đốc tài chính có thể thay đổi mức độ bán chịu để kiểm soát khoản phải thu sao cho phù hợp với sự đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro.
Hạ thấp tiêu chuẩn bán chịu có thể kích thích đƣợc nhu cầu dẫn tới gia tăng doanh thu và lợi nhuận, nhƣng vì bán chịu sẽ làm phát sinh khoản phải thu, và bao giờ cũng có chi phí đi kèm theo khoản phải thu nên giám đốc tài chính cần xem xét thận trọng với sự đánh đổi này.2 Tác động của quản trị hàng tồn kho đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Hàng tồn kho là tất cả những nguồn lực dự trữ nhằm đáp ứng cho nhu cầu hiện tại hoặc tƣơng lai. Hàng tồn kho không chỉ có tồn kho thành phẩm mà còn có tồn kho sản phẩm dở dang, tồn kho nguyên vật liệu và tồn kho công cụ, dụng cụ dùng trong sản xuất. Hàng tồn kho là một tất yếu khách quan, không thể thiếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhƣng tồn kho đồng nghĩa với việc “chiếm giữ vốn” hoạt động. Quản c 12 trị hàng tồn kho vì thế có vai trò quan trọng trong việc quản lý dòng tiền của công ty.
Đối với các doanh nghiệp ngành bất động sản, việc hàng tồn kho tăng cao là dấu hiệu xấu cho thấy đầu ra của sản phẩm khó khăn, làm giảm khả năng sinh lợi của doanh nghiệp vì chôn vốn quá lâu đồng thời phải mang gánh nặng nợ vay rất lớn. Doanh nghiệp trong ngành bất động sản thƣờng có hàng tồn kho cao hơn so với các ngành khác vì vòng quay bất động sản vốn khá chậm. Hơn nữa, do tính đặc thù của mặt hàng này trong nhiều trƣờng hợp căn hộ, đất nền sau khi bán nhƣng vẫn không thể hạch toán vào doanh thu, do vậy hàng tồn kho vẫn hiện diện trên báo cáo tài chính. Do đó, các nhà quản lý cần phải kiểm soát chặt chẽ lƣợng hàng tồn kho cũng nhƣ kỳ luân chuyển hàng tồn kho để giảm thiểu ảnh hƣởng đến khả năng sinh lợi.3 Tác động của quản trị khoản phải trả đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Không chỉ quản trị không tốt các khoản phải thu mà ngay cả yếu kém trong quản trị các khoản phải trả cũng có thể trở thành nguy cơ dẫn một công ty đến chỗ phá sản.