CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CLDV VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI CÁC NHTM 1. Sự hài lòng của khách hàng “Bitner và Zeithaml (2003) cho biết sự thoả mãn là sự hài lòng của người tiêu dùng đối với sản phẩm hoặc dịch vụ bằng việc so sánh hiệu quả sản phẩm hoặc dịch vụ tương tự với mong đợi. Lovelock và Gummesson (2004) đưa ra định nghĩa sự thoả mãn của khách hàng là sự hài lòng (hoặc thoả mãn) của một cá nhân có được thông qua việc so sánh hiệu suất hoặc kết quả đạt được so với mong đợi. Sự thoả mãn của khách hàng là một khái niệm tâm lý đề cập đến sự hài lòng và mãn nguyện đối với khả năng có được những điều người tiêu dùng kỳ vọng và mong đợi đối với một sản phẩm và/hoặc dịch vụ cụ thể (Kotler và Keller, 2006).
Theo Lovelock và Wirtz (2007), sự hài lòng của khách hàng là sự hài lòng sau khi mua sản phẩm và phản ứng cảm xúc của người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ tổng thể. Sự hài lòng của khách hàng phát triển khi khách hàng so sánh lợi ích đạt được của một dịch vụ với mong đợi của khách hàng (Kotler và cộng sự, 2009).” “Theo Gallarza và cộng sự (2011), sự hài lòng là cảm nhận so sánh sự khác biệt giữa kỳ vọng và trải nghiệm thực tế đối với sản phẩm, dịch vụ của nhà cung cấp. Sự thoả mãn của khách hàng dẫn đến những kết quả tâm lý như nhu cầu và ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ, mối quan hệ cùng có lợi giữa nhà cung cấp dịch vụ và người sử dụng và các phản hồi tích cực của khách hàng với nhà cung cấp dịch vụ (Ladhari và cộng sự, 2011). Kotler và Keller (2013) định nghĩa sự hài lòng của khách hàng là khi họ cảm thấy hạnh phúc hoặc thất vọng sau khi so sánh giữa hiệu quả cảm nhận sản phẩm với sự mong đợi, kỳ vọng về hiệu quả sản phẩm.
Chất lượng dịch vụ ngân hàng 1. Khái niệm dịch vụ “Theo Gronroos (1984), dịch vụ có thể là một hoặc nhiều hoạt động ít hữu hình hơn bình thường, các hoạt động không cần thiết phải xảy ra trong việc giao tiếp về thông tin sản phẩm hoặc khách hàng tương tác với hệ thống dịch vụ cung cấp. Kotler và Armstrong (2010) cho rằng, dịch vụ là các hoạt động hoặc lợi ích được áp dụng cho 6 bán hàng, vốn là những yếu tố vô hình quan trọng. Kotler (2012) định nghĩa dịch vụ là các hoạt động hoặc lợi ích được áp dụng cho bán hàng, vốn là những yếu tố vô hình quan trọng và không dẫn đến quyền sỡ hữu bất cứ thứ gì.” Kotler và cộng sự (2018) cho rằng dịch vụ phục vụ các nhu cầu thiết yếu của khách hàng có thể có hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất, các lợi ích của dịch vụ chủ yếu là vô hình và khó có thể chuyển quyền sở hữu sau khi sử dụng.
Khái niệm dịch vụ ngân hàng “Xét trên góc độ Marketing thì dịch vụ ngân hàng là các hoạt động có đặc điểm, tính chất và tác dụng được ngân hàng tạo ra để đáp ứng yêu cầu của cá nhân và tổ chức tài chính (Bloemer và cộng sự, 1998).” “Theo định nghĩa của Tổ chức thương mại thế giới (WTO): "Dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính tài chính mà một nhà cung cấp dịch vụ tài chính của một thành viên thực hiện. Dịch vụ tài chính bao gồm dịch vụ ngân hàng và dịch vụ liên quan như bảo hiểm nhân thọ, dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác "(Mishkin, 2007).” “Dịch vụ ngân hàng được định nghĩa là bất kỳ dịch vụ ngân hàng nào sau đây được cung cấp bởi NHTM nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng: (i) thẻ tín dụng cho khách hàng (bao gồm thẻ tín dụng thương mại và thẻ mua hàng), (ii) thẻ ghi nợ, (iii) dịch vụ quản lý ngân quỹ (bao gồm: giải ngân có kiểm soát, giao dịch thanh toán bù trừ, thấu chi và dịch vụ mạng lưới lưu ký), và (v) các dịch vụ quản lý ngoại hối và tiền tệ, và (vi) thư tín dụng (L/C) trong hoạt động thương mại quốc tế (Rose và Hudgins, 2008).” “Việc phân định rõ thế nào là dịch vụ ngân hàng cũng chưa có một khái niệm chính thức. Có nhiều quan điểm cho rằng toàn bộ những hoạt động nghiệp vụ của NHTM (hoạt động tín dụng, thanh toán, ngoại hối, .) đều được gọi là hoạt động dịch vụ. Quan điểm này được xây dựng trên quan điểm của thế giới khi dịch vụ ngân hàng được hiểu theo nghĩa tổng quát, bao gồm các hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối,.
của ngân hàng với doanh nghiệp và người dân.” “Nhưng cũng có quan điểm cho rằng hoạt động dịch vụ ngân hàng không thuộc 7 phạm vi hoạt động tín dụng (bao gồm nhận tiền gửi và cho vay) hay nói một cách khác là các hoạt động phi tín dụng có khả năng sinh lãi cho ngân hàng được coi là hoạt động dịch vụ. Theo quan điểm trên cạnh tranh về dịch vụ của ngành ngân hàng không tính đến các hoạt động thông thường như: nhận tiền gửi và cho vay – điều mà bất kỳ ngân hàng nào cũng có thể thực hiện được. Khái niệm chất lượng dịch vụ “Parasuraman và cộng sự (1988) định nghĩa CLDV là khoảng cách giữa mong đợi và nhận thức về CLDV (SERVQUAL), và đưa ra năm kích thước CLDV. Chỉ số hài lòng của khách hàng Mỹ (Fornell và cộng sự, 1996) cũng định nghĩa CLDV là mức độ mà một sản phẩm hoặc dịch vụ đáp ứng những yêu cầu của khách hàng (mức độ tuỳ chỉnh) và cách những yêu cầu này được thoả mãn (mức độ tin cậy).” Ekinci và Sirakaya (2004) định nghĩa CLDV theo bốn khía cạnh: xuất sắc, giá trị, sự phù hợp với các thông số kỹ thuật và đáp ứng và / hoặc vượt quá mong đợi.
Sự xuất sắc thể hiện dịch vụ thực hiện mục đích dự định của nó. Sự xuất sắc được định nghĩa một cách rộng rãi và do đó các thuộc tính đi kèm với nó thay đổi đáng kể và nhanh chóng. Giá trị là lợi ích mà khách hàng nhận được khi sử dụng dịch vụ. Sự thay đổi về quy trình và thiết kế được coi là một yếu tố liên tục để đạt được sự phù hợp với các yêu cầu và hầu hết các tiến bộ kỹ thuật về chất.
Tuy nhiên, việc tiêu chuẩn hóa hoặc tuân thủ các thông số kỹ thuật mang lại lợi ích cho khách hàng thông qua việc giảm tỷ lệ mắc các lỗi chất lượng. Đáp ứng và vượt quá mong đợi là một quan điểm năng động khi kỳ vọng thay đổi và có thể được định hình bằng trải nghiệm với các nhà cung cấp dịch vụ khác. Khalid (2011) cho rằng CLDV liên quan đến chất lượng và tính ưu việt của các tổ chức dịch vụ. CLDV liên quan đến sự tương tác của khách hàng và người phục vụ sử dụng cơ sở vật chất hoàn chỉnh và cung cấp cho người tiêu dùng như một giải pháp cho nhu cầu của họ.
“CLDV là một yếu tố kích thích marketing của các công ty, đặc biệt là các công ty kinh doanh dịch vụ và là khía cạnh quan trọng ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Các ngân hàng nên không ngừng nâng cao CLDV vì không có gì 8 đảm bảo rằng dịch vụ nổi bật hiện tại cũng phù hợp cho tương lai (Ladhari, 2011). Do đó, các ngân hàng nên “phát triển chiến lược mới” để làm hài lòng khách hàng của mình và phải cung cấp dịch vụ chất lượng để phân biệt mình với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Mô hình lý thuyết nền tảng đo lường chất lượng dịch vụ 1.
Mô hình CLDV của Gronroos (1984) “Grönroos (1984) đề xuất đánh giá CLDV cảm nhận theo các khía cạnh kỹ thuật, chức năng và hình ảnh doanh nghiệp. Chất lượng kỹ thuật là nội dung của dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Chất lượng chức năng được đề cập đến các phương pháp thực hiện dịch vụ: đối xử với khách hàng của nhân viên, hành vi của nhân viên, v.; nghĩa là dịch vụ được cung cấp như thế nào. Grönroos (1984) khẳng định rằng chất lượng phải hướng đến sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng và hiệu suất được cảm nhận.
Khách hàng so sánh kỳ vọng của mình với trải nghiệm của anh ta về dịch vụ, được cảm nhận thông qua hình ảnh của công ty. Có nghĩa là, đánh giá của khách hàng về CLDV dựa trên sự so sánh, hoặc xác nhận thay vì từ chối, đối với một số thuật ngữ so sánh đã được khách hàng ghi nhớ ở giai đoạn trước khi thực hiện dịch vụ.” Yếu tố hình ảnh có sức ảnh hưởng đến sự cảm nhận về dịch vụ và sản phẩm của khách hàng. Người mua hàng sẽ phân biệt các loại hình và sản phẩm cao cấp hoặc thấp dựa theo sự trải nghiệm từ bản thân từ trước và sau khi sử dụng dịch vụ. Khách hàng có thể tiếp tục sử dụng các dòng sản phẩm mới hơn từ một doanh nghiệp, hoặc họ có thể kiếm các dòng sản phẩm tương đương khác nếu bị yếu tố hình ảnh của doanh nghiệp khác thu hút.
Mô hình SERVQUAL của Gronroos (1984) Nguồn: Kang và James (2004) 1. Mô hình của Parasuraman và cộng sự (1985, 1988) “Parasuraman và cộng sự (1985) đã tiên phong trong việc nghiên cứu mô hình chất lượng và dịch vụ. Việc mô hình nghiên cứu thành công tạo nên tính chất đột phá giúp những người kinh doanh và doanh nghiệp có được sự cải thiện dựa trên kết quả hiện tại của họ, thông qua việc nghiên cứu các đánh giá thực tế của khách hàng gửi về. Cụm từ SERVQUAL trong mô hình là sự kết hợp giữa dịch vụ (Service) và chất lượng (Quality) và được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là rất toàn diện.
Dựa trên những nghiên cứu trước mô hình SERVQUAL lại tiếp tục hoàn thiện khi cho vào “Sự cảm nhận chất lượng” của người tiêu dùng, mang lại tính khách quan về chất lượng của dịch vụ. Sơ đồ mô hình chất lượng dịch vụ Parasuraman và cộng sự (1985) Nguồn: Parasuraman và cộng sự (1985) Có 5 khoảng cách ảnh hưởng đến CLDV cảm nhận được và trình bày như sau: - “Khoảng cách 1: Sự sai biệt giữa cảm nhận từ bên cung cấp dịch vụ và kỳ vọng của khách hàng, sự sai biệt xảy ra khi diễn dịch kỳ vọng của khách hàng không được hiểu cặn kẽ các dịch vụ, chất lượng và đặc trưng của khách hàng.