CHƯƠNG 1. CO SO LY LUẬN VE THUC THI CHÍNH SÁCH TU CHỦ TRONG CAC CO SO GIAO DUC DAI HOC CHƯƠNG 2. NHAN DIEN NHUNG RAO CAN TRONG THUC THI CHÍNH SÁCH TU CHU TRONG CAC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở NƯỚC TA HIEN NAY KẾT LUẬN 15 CHUONG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE THỰC THI CHÍNH SÁCH TỰ CHỦ TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm Chính sách: Trong khoa học chính sách trên thế giới, có rất nhiều định nghĩa đã được đưa ra trong các công trình nghiên cứu, tác giả xin nêu ra một số nhóm định nghĩa tiêu biểu như sau: Theo bách khoa toàn thư mở, chính sách là một hệ thông nguyên tắc có chủ ý hướng dẫn các quyết định và đạt được các kết quả hợp lý.
Một chính sách là một tuyên bố về ý định, và được thực hiện như một thủ tục hoặc giao thức. Các chính sách thường được cơ quan quản trị thông qua trong một tô chức. Chính sách có thể hỗ trợ cả việc đưa ra quyết định chủ quan và khách quan. Các chính sách hỗ trợ trong việc ra quyết định chủ quan thường hỗ trợ quản lý cấp cao với các quyết định phải dựa trên thành tích tương đối của một số yếu tô và do đó thường khó kiểm tra khách quan.
Chính sách khác với các quy tắc hoặc luật pháp; Luật pháp có thể buộc hoặc cắm hành vi, chính sách chỉ hướng dẫn hành động đối với những hành vi có nhiều khả năng đạt được kết quả mong muốn. Chính sách có bản chất thuộc về chính trị, là sản phẩm của quá trình ra quyết định lựa chon các vấn dé, mục tiêu và giải pháp dé giải quyết nhưng sản phẩm của quá trình hoạch định chính sách thì dé nhận thấy hơn, ví dụ như các quy định cụ thé, chi tiết của pháp luật, và ảnh hưởng trực tiếp đến đến đời sống xã hội và kinh tế của mỗi người. Trong cuốn Giáo trình Khoa học chính sách, PGS.Vũ Cao Đàm đã đưa ra khái niệm chính sách như sau: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, ma một chủ thé quyền lực hoặc chủ thé quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của hệ thống xã hội”. Theo tác gia Lê Chi Mai, chính sách là chương trình hành động do các nhà 16 lãnh dao hay các nhà quan lý đề ra dé giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thâm quyền của mình”.
Theo James Anderson, Chính sách là một quá trình hành động có mục đích được theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thé trong việc giải quyết các van đề mà họ quan tâm”. (Hoạch định chính sách công, Houghton Mifflin, 1990, tr.5) Bài giảng về Chính sách xã hội của TS. Bùi Thế Cường, chính sách là hoạt động chính tri, liên quan đến những mục tiêu cơ bản, một chuỗi các hành động, một tập hợp các quy tắc và điều chỉnh. Có thê phân tích chính sách theo nghĩa các giá trị, mục tiêu (targets), nguồn lực, phong cách và chiến lược”.
Tổng hợp tất cả các cách tiếp cận trên đây về chính sách, khái niệm chính sách được hiểu là hình thức tác động qua lại giữa các nhóm, tập đoàn xã hội gắn trực tiếp hoặc gián tiếp với tổ chức, hoạt động của nhà nước, của các đảng phái, thiết chế khác nhau của hệ thống chính trị nhằm thực hiện các lợi ích, các mục tiêu, nhiệm vụ của các nhóm, tập đoàn xã hội ay. - Chính sách công: Là hệ thông những hành động có chủ đích, mang tinh quyền lực nhà nước, được ban hành theo những trình tự, thủ tục nhất định, nhằm mục tiêu giải quyết các van dé phát sinh trong thực tiễn, hay thúc đây các giá trị ưu tiên phù hợp với thái độ chính trị trong mỗi thời kỳ nhằm giữ cho xã hội phát triển theo định hướng. Nhóm định nghĩa chính sách công như là sản phẩm của hoạt động có mục đích của nhà nước. Những định nghĩa thuộc nhóm này cũng có những mức độ khái quát khác nhau, chú trọng tới những thuộc tính của chính sách một cách khác nhau.
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về chính sách công, ví dụ như: Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết van đề (James Anderson, 2003). Theo quan điểm lý thuyết hệ thống, G.de Leon định nghĩa: “Chính sách công là những quyết định quan trọng nhất của xã hội, là những hành động có tính chức năng dựa trên sự đồng thuận hoặc phê chuẩn của toàn hỗ thống”. 17 Từ các quan niệm trên, chính sách công có thể được nhìn nhận như sau: Trước hết, là một chính sách của nhà nước, của chính phủ (do nhà nước, do chính phủ đưa ra), là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói chung của mỗi nước. Thứ hai, về mặt kinh tế, chính sách công phản ánh và thé hiện hoạt động cũng như quản lý đối với khu vực công, phản ánh việc đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công cộng cho nền kinh tế.
Thứ ba, là một công cụ quản lý của nhà nước, được nhà nước sử dụng dé: (i) Khuyến khích việc sản xuất, đảm bao hàng hóa, dịch vụ công cho nền kinh tế, khuyến khích cả với khu vực công và cả với khu vực tư; (ii) Quản lý nguồn lực công một cách hiệu quả, hiệu lực, thiết thực đối với cả kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, cả trong ngắn hạn lẫn trong dài hạn. Nói cách khác chính sách công là một trong những căn cứ đo lường năng lực hoạch định chính sách, xác định mục tiêu, căn cứ kiểm tra, đánh giá, xác định trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn lực công như ngân sách nhà nước, tài sản công, tài nguyên đất nước.12 Khai niệm Tự chủ đại học: Là mức độ độc lập cần thiết đối với các tác nhân can thiệp bên ngoài mà TDH cần có dé có thể thực hiện được việc quản tri và tổ chức nội bộ, việc phân bổ các nguồn lực tài chính trong phạm vi TĐH, việc tạo ra và sử dụng các nguồn tài chính ngoài ngân sách công, việc tuyển dụng nhân sự, việc xây dựng các tiêu chuẩn cho học tập và nghiên cứu, và cuối cùng, là quyền tự do trong việc tổ chức thực hiện nghiên cứu và giảng dạy. Tính tự chủ của TDH được chia ra theo mức độ khác nhau như tự chủ hoàn toàn hoặc tự chủ một phần tùy vào năng lực của từng trường. Một cách khái quát, có thể nêu lên một số khái niệm tự chủ đại học như sau: 1) Tự chủ đại học là quyền của nhà trường được tự “điều hành” hoạt động của mình mà không bị kiểm soát từ bên ngoài; hay là sự “thoát ra khỏi” sự kiểm soát, hạn chế của các cơ quan quản lý nhà nước, của thị trường.đối với các hoạt động của trường đại học.
2) Là quyền của các trường tự do đưa ra các quyết định về cách thức tổ chức hoạt động cũng như mục tiêu - sứ mạng của trường (do trường đặt ra). 18 3) Là quyền của các trường được quyết định các phương tiện, cách thức để đạt đến mục tiêu đã được nhà nước xác định trước. 4) Tự chủ đại học cũng có thể được xác định như là các quyền lực có điều kiện đối với các trường: các trường chỉ có thé có các quyền tự chủ nào đó trong hoạt động khi đã đạt được các chuẩn mực theo quy định của nhà nước. 5) Là sự độc lập ở mức cần thiết của nhà trường đối với các tác nhân can thiệp từ bên ngoài mà nhà trường cần có dé có thé thực hiện được việc quản tri và tô chức nội bộ; như tạo ra và sử dụng các nguồn tài chính ngoài ngân sách công, phân bố các nguồn lực tài chính trong phạm vi nhà trường, tuyển dụng nhân sự, xây dựng các tiêu chuẩn cho học tập, đào tạo và nghiên cứu, và cuối cùng, là quyền tự do trong việc tô chức thực hiện nghiên cứu và giảng dạy (Một số vấn dé về cơ chế tự chủ của các trường đại học: PGS.
Tran Quốc Toản, Trang TTPT Hội đồng lý luận trung wong) Nói chung, tự chủ đại học là khả năng hành động chủ động của các trường mang tính pháp lý về các mặt học thuật, quản trị và tài chính; là điều kiện cần để giúp các trường thực hiện tốt sứ mạng của mình, có tính tương đối và chịu ảnh hưởng bởi chiến lược điều khiển hệ thống giáo dục đại học của nhà nước. Tự chủ về bộ máy tô chức và nhân sự: đơn vị sự nghiệp xây dung vi trí việc làm và cơ cau viên chức theo chức danh nghề nghiệp trình cấp có thâm quyền phê duyệt; tuyên dụng, sử dụng, b6 nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật và quản lý viên chức, người lao động theo quy định của pháp luật; thuê hợp đồng lao động dé thực hiện nhiệm vu [5] Tự chủ về tài chính: các đơn vị sự nghiệp công được trao quyền tự quyết định, tự chịu trách nhiệm về các khoản thu, khoản chi của đơn vị mình trong khuôn khổ mà pháp luật quy định. Dé phù hợp với kha năng của từng đơn vị, pháp luật quy định các mức tự chủ tài chính khác nhau. Theo Nghị định số 60/2021/NĐ-CP, tự chủ tài chính của đơn vi sự nghiệp gồm 4 mức độ cơ bản được nêu dưới đây: — Tự chủ tài chính đối với đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi dau tư; ~ Tự chủ tài chính đối với đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên; 19 — Tự chủ tài chính đối với đơn vị tự bảo đảm một phan chi thường xuyên (do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa kết cầu đủ chi phí, được Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dich vụ sự nghiệp công theo giá, phí chưa tính đủ chi phi); —Tu chủ tài chính đối với đơn vi được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên (Theo chức năng, nhiệm vu được cấp có thẩm quyền giao, không có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp).