CHƯƠNG I: ĐẶC ĐIỂM KẾ TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH CỦA CÔNG TY KHÁCH HÀNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO CÔNG TY TNHH DELOITTE VIỆT NAM THỰC HIỆN I.1 Đặc điểm kế toán Tài sản cố định của Công ty khách hàng ảnh hưởng đến kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty TNHH Deloitte Việt Nam thực hiện I.1 Đặc điểm tổng quát về Tài sản cố định Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác đòi hỏi DN phải huy động, phân phối và sử dụng một khối lượng tài sản nhất định. TSCĐ trong các DN là những tài sản có giá trị lớn và dự tính đem lại lợi ích kinh tế lâu dài cho DN. Theo Thông tư số 203/2009/TT-BTC ngày 20/10/2009 -Hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ ban hành thay thế Quyết định số 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ trưởng Bộ tài chính thì Tư liệu lao động là những tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào thì cả hệ thống không thể hoạt động được, nếu thỏa mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn dưới đây thì được coi là TSCĐ: a. Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó b.
Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên c. Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ 10.000 đồng (mười triệu đồng) trở lên. Trường hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau, trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính của nó nhưng do yêu cầu quản lý, sử dụng tài sản cố định đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận tài sản thì mỗi bộ phận tài sản đó nếu cùng thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của tài sản cố định được coi là một tài sản cố định hữu hình độc lập. Để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán TSCĐ thì việc phân loại TSCĐ phải được tiến hành theo nhiều tiêu thức khác nhau trong đó phổ biến nhất là phân loại theo tính chất và đặc trưng kĩ thuật của tài sản.
Theo đó TSCĐ được phân chia thành TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình và TSCĐ thuê tài chính. Tài sản cố định hữu hình Là những tài sản có hình thái vật chất , thỏa mãn tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải. Tài sản cố định vô hình Là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được SV: Trần Thanh Hảo 3 toán 49A Lớp: Kiểm Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp đầu tư thoả mãn các tiêu chuẩn của TSCĐ vô hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, như một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất sử dụng; chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả. Các chi phí phát sinh trong quá trình triển khai sẽ được ghi nhận là TSCĐVH nếu thỏa mãn đồng thời 7 điều kiện sau: a.
Tính khả thi về mặt kĩ thuật đảm bảo cho việc hoàn thành và đưa TSCĐ vào sử dụng theo dự tính hoặc để bán. Doanh nghiệp dự tính hoàn thành TSCĐVH để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc để bán. Doanh nghiệp có khả năng sử dụng hoặc bán TSCĐVH đó. Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai do tài sản đó mang lại; e.
Có đầy đủ các nguồn lực về kĩ thuật, tài chính và các nguồn lực khác để hoàn tất các giai đoạn triển khai, bán hoặc sử dụng TSCĐVH đó f. Có khả năng xác định một cách chắc chắn toàn bộ chi phí trong giai đoạn triển khai để tạo ra TSCĐVH đó. Uớc tính có đủ tiêu chuẩn về thời gian sử dụng và giá trị theo quy định cho TSCĐVH. Các chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí đào tạo nhân viên, chi phí quảng cáo phát sinh trước khi thành lập doanh nghiệp, chi phí cho giai đoạn nghiên cứu, chi phí chuyển dịch địa điểm, lợi thế thương mại không phải là TSCĐVH mà sẽ được phân bổ dần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong thời gian tối đa không quá 3 năm kể từ khi doanh nghiệp bắt đầu đi vào hoạt động.
Tài sản cố định thuê tài chính Là những TSCĐ mà DN thuê của công ty cho thuê tài chính. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê tài chính. Tổng số tiền thuê của một loại tài sản quy định tại hợp đồng thuê tài chính ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng. Mọi TSCĐ đi thuê nếu không thỏa mãn các quy định về thuê tài chính đều là TSCĐ thuê hoạt động.
Đầu tư tài chính dài hạn Đầu tư tài chính dài hạn là tiền vốn của doanh nghiệp đầu tư vào kinh doanh bên ngoài hoạt động của doanh nghiệp nhằm mục đích hưởng lãi hoặc chia sẻ lợi ích với doanh nghiệp khác. Đầu tư tài chính có thể là: đầu tư cổ phiếu, trái phiếu các loại, vốn góp liên doanh, tài sản, đất đai cho thuê ngoài, tiền vốn cho vay. Tài sản cố định dở dang Là những TSCĐ hữu hình hoặc vô hình đang trong quá trình hình thành, hiện tại chưa sử dụng và được xếp vào mục chi phí xây dựng cơ bản dở dang. SV: Trần Thanh Hảo 4 toán 49A Lớp: Kiểm Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Ngoài ra, các khoản ký quỹ, ký cược dài hạn mà doanh nghiệp thực hiện cũng được xếp vào TSCĐ.
Ngoài cách phân loại như trên, có thể phân loại TSCĐ theo nhiều cách khác nữa như: phân loại theo công dụng kinh tế của TS, phân loại theo tính chất sở hữu, Phân loại theo nguồn hình thành TS… Trong các doanh nghiệp có quy mô lớn hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, năng lượng, xây dựng, vận tải mà Deloitte Việt Nam kiểm toán như Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, Tập đoàn Hòa Phát, Tổng công ty Điện lực Hà Nội, Tổng công ty Vận tải Hà Nội, Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam, Tổng công ty Hàng không Việt Nam, Tổng công ty Thép Việt Nam, Tổng công ty Vinaconex, Tổng công ty rượu bia nước giải khát Việt Nam… TSCĐ thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản (trên 50%); cơ cấu, chủng loại đa dạng; công tác quản lý, hạch toán phức tạp. Ví dụ như tại Tổng công ty Điện lực Dầu khí thuộc tập đoàn Dầu khí, TSCĐ chiếm gần 60% giá trị tổng TS bao gồm TSCĐ hữu hình (nhà cửa, vật kiến trúc; máy móc, thiết bị; phương tiện vận tải; thiết bị văn phòng) và TSCĐ vô hình (quyền sử dụng đất, phần mềm máy tính). Với những đối tượng khách hàng này đòi hỏi KTV không chỉ có trình độ chuyên môn và năng lực thích hợp mà còn cả kinh nghiệm kiểm toán trong lĩnh vực hoạt động của khách hàng. Trong cuộc kiểm toán, TSCĐ được xem là một khoản mục trọng yếu cần được chú ý quan tâm từ việc thiết kế, thực hiện các thủ tục kiểm tra đến đánh giá kết quả để thu được những bằng chứng tin cậy khẳng định tính trung thực, hợp lý của số dư các tài khoản liên quan.
Với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ hơn, hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ: dịch vụ khách sạn, dịch vụ ăn uống, dịch vụ tài chính Deloitte Việt Nam kiểm toán như các ngân hàng (ngân hàng TMCP VIB, ngân hàng TMCP Đại dương, ngân hàng Indovina bank…); các khách sạn (khách sạn Hà Nội, khách sạn Metropole Hà Nội, khách sạn Victoria, khách sạn Fortuna); các nhà hàng (chuỗi nhà hàng lẩu nấm Ashima.) thường các TSCĐ có giá trị nhỏ hơn; cơ cấu, chủng loại không nhiều, không phức tạp dễ theo dõi và quản lý hơn nên công tác kiểm toán với khoản mục này cũng không quá phức tạp. Đặc biệt, với một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin như Tổng công ty cổ phần FPT, Công ty Thông tin di động Mobile Phone, Công ty Intel Việt Nam, Công ty Microsoft Việt nam, Công ty SLD Telecom, Công ty Nortel Việt Nam… TSCĐ bao gồm nhiều máy móc thiết bị hiện đại hay các phần mềm máy tính công nghệ cao cần cân nhắc nhu cầu sử dụng chuyên gia và lưu ý thiết kế các thủ tục kiểm toán thích hợp để thu thập các bằng chứng kiểm toán.2 Đặc điểm kế toán Tài sản cố định Hạch toán TSCĐ căn cứ vào Chuẩn mực Kế toán quốc tế, Chuẩn mực kế toán Việt Nam, Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ Tài Chính, riêng đối với việc trích lập khấu hao TSCĐ, đơn vị căn cứ vào khung thời gian sử dụng TSCĐ đã được qui định trong Thông tư số 203/2009/TT-BTC ngày 20/10/2009(áp SV: Trần Thanh Hảo 5 toán 49A Lớp: Kiểm Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp dụng từ 01/01/2010) ban hành thay thế Quyết định số 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài Chính (áp dụng cho thời gian trước 31/12/2009) Hệ thống chứng từ kế toán về TSCĐ Trong quá trình quản lý và hạch toán TSCĐ, kế toán sử dụng các chứng từ sau: Quyết định tăng (giảm) TSCĐ; Tờ trình mua sắm có phê duyệt của cấp có thẩm quyền; Đơn đặt hàng; Hợp đồng khung, hợp đồng mua bán; Hóa đơn; Bảng tổng hợp chi phí; Biên bản bàn giao hàng hóa; Biên bản nghiệm thu tạm thời, biên bản nghiệm thu cuối cùng; Biên bản bàn giao tài sản hình thành do xây dựng cơ bản; Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ; Biên bản kiểm kê TSCĐ; Biên bản đánh giá lại TSCĐ; Biên bản thanh lý TSCĐ,. Tùy thuộc vào loại hình, qui mô của doanh nghiệp mà mức độ đầy đủ và phức tạp của hệ thống chứng từ kế toán về TSCĐ được áp dụng và sử dụng khác nhau.