phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng biểu, sơ đồ, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn đƣợc trình bày gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về đào tạo nguồn nhân lực tại Ngân hàng thƣơng mại 7 Chƣơng 2: Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực tại Hội sở Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam (PVcomBank) Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện đào tạo nguồn nhân lực tại Hội sở Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam (PVcomBank). 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Một số khái niệm liên quan 1. Ngân hàng Thương mại Ngân hàng thƣơng mại là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phƣơng, chủ thể tham gia nói riêng.
Theo quy định tại Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng thì ngân hàng đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”. Nhƣ vậy, có thể hiểu, ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng, là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chính là kinh doanh tiền tệ. Theo Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng, Ngân hàng thƣơng mại dƣợc hiểu là “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
Nhƣ vậy, ngân hàng thƣơng mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tín dụng với mục đích thu lợi nhuận, và nó có những đặc trƣng nhƣ sau: nhận ký ủy thác của công chúng với trách nhiệm hoàn trả, đƣợc phép sử dụng ký thác của công chúng để cho vay, chiết khấu và thực hiện các dịch vụ tài chính khác. Từ các khái niệm trên, theo tác giả: Ngân hàng thƣơng mại đƣợc xem là một tổ chức kinh tế đặc biệt với mức độ rủi ro cao, cùng sức ảnh hƣởng dây chuyền tới sức khỏe nhiều doanh nghiệp khác cũng nhƣ sức khỏe của nền 9 kinh tế. Do đó, hoạt động ngân hàng thƣơng mại luôn chịu sự giám sát chặt chẽ nhất từ các thiết chế quản lý. Đồng thời, tự bản thân nó đòi hỏi những bộ máy tổ chức quản lý vận hành hiệu quả nhất và liên tục đƣợc hoàn thiện.Nguồn nhân lực của ngân hàng thƣơng mại, vì vậy cần đáp ứng đƣợc những tiêu chuẩn nhất định.
Nguồn nhân lực 1. Nhân lực “Nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực của mỗi con ngƣời mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực. Thể lực chỉ là sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng con ngƣời, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực của con ngƣời còn tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác và giới tính.
Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng nhƣ quan điểm, lòng tin, nhân cách. của từng con ngƣời.” [Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân, 2015, tr. Nhƣ vậy, có thể hiểu Nhân lực là tổng thể nguồn lực của cá nhân mỗi ngƣời và bao gồm: thể lực và trí lực của ngƣời đó. Nguồn nhân lực “Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời.
Nguồn lực đó đƣợc xem xét ở hai khía cạnh. Trƣớc hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con ngƣời, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con ngƣời với các nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn nhân lực đƣợc hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân con ngƣời.
Với tƣ cách là một nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho 10 xã hội đƣợc biểu hiện ra là số lƣợng và chất lƣợng nhất định tại một thời điểm nhất định.” [Mai Quốc Chánh, Trần Xuân Cầu, 2008, tr. Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau nhƣng nguồn nhân lực có những đặc điểm sau: + Là nguồn lực con ngƣời. + Là bộ phân dân số gắn liền với cung lao động. + Phản ánh khả năng lao động của mỗi xã hội trong từng giai đoạn.
Nhƣ vậy, có thể thấy rằng nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con ngƣời (trƣớc hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động) gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con ngƣời nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định. Nguồn nhân lực là tài sản quan trọng nhất của tổ chức vì nó là nguồn lực duy nhất tạo ra giá trị lớn hơn giá trị bản thân và giúp tạo ra sức mạnh riêng có của tổ chức. Nhu cầu về nguồn nhân lực là nhu cầu sử dụng lao động cho các vị trí việc làm, công việc, thậm chí các nghề nghiệp khác nhau. Nguồn nhân lực của một tổ chức là toàn bộ ngƣời lao động làm việc trong tổ chức đó theo một cơ cấu xác định, với khả năng lao động và tiềm năng sáng tạo vô hạn, đƣợc tổ chức quản lý và phát triển nhằm thúc đẩy vai trò nguồn hạt nhân trong quá trình thực thi sứ mạng của tổ chức.
Nguồn nhân lực trong Ngân hàng Thương mại Có thể hiểu, nguồn nhân lực của một ngân hàng thƣơng mại là toàn bộ ngƣời lao động làm việc trong ngân hàng đó theo một cơ cấu có tính kế thừa; với nòng cốt là đội ngũ nhân sự trình độ cao, làm việc chuyên nghiệp, sáng tạo và có đạo đức nghề nghiệp; đƣợc tổ chức quản lý và phát triển nhằm làm tốt vai trò chủ thể trong quá trình thực thi chiến lƣợc của ngân hàng thƣơng mại, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế trong từng giai đoạn. Đào tạo nguồn nhân lực trong Ngân hàng Thương mại 1. Đào tạo nguồn nhân lực 11 “Đào tạo đƣợc hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho ngƣời lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập, làm cho ngƣời lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của ngƣời lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động của mình có hiệu quả hơn” [Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân, 2015, tr.
Trong thực tế, đào tạo nguồn nhân lực là quá trình cung cấp các kiến thức, kỹ năng mới và nhằm mục đích thay đổi các quan điểm hay hành vi hoặc thái độ làm việc của ngƣời lao động, thông qua đó sẽ nâng cao khả năng thực hiện công việc của cá nhân. Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị những kiến thức hoặc bổ sung những thiếu hụt về chuyên môn, nghiệp vụ cho ngƣời lao động, để họ có thể đảm nhận một nghề nào đó, hay làm tốt hơn một công việc nào đó, hoặc để làm những công việc khác trong tƣơng lai. Đào tạo nguồn nhân lực nhằm giúp cho ngƣời lao động có thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ hiện tại của họ có hiệu quả hơn. Nói một cách cụ thể, đào tạo liên quan đến việc tiếp thu các kiến thức, kỹ năng đặc biệt, nhằm thực hiện những công việc cụ thể một cách hoàn hảo hơn.
Đào tạo nguồn nhân lực trong Ngân hàng thương mại Đào tạo nguồn nhân lực trong Ngân hàng thƣơng mại là hình thức đào tạo do ngân hàng tổ chức thực hiện, trong đó ngƣời đƣợc đào tạo sẽ trực tiếp thu đƣợc những kiến thức và kỹ năng cần thiết thông qua thực tế thực hiện công việc dƣới sự hƣớng dẫn trực tiếp của những ngƣời có kinh nghiệm thực tiễn cao trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng nói chung và các nghiệp vụ cụ thể của hoạt động ngân hàng thƣơng mại nói riêng. Đối với Ngân hàng Thƣơng mại, việc đào tạo nguồn nhân lực giúp nâng cao năng suất lao động, hiệu quả thực hiện công việc; Nâng cao chất lƣợng thực hiện công việc; Giảm bớt sự giám sát vì ngƣời lao động đƣợc đào tạo là 12 ngƣời có khả năng tự giám sát; Nâng cao tính ổn định và năng động cuả tổ chức; Duy trì và nâng cao chất luợng nguồn nhân lực; Tạo điều kiện cho áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật và quản lý vào doanh nghiệp; Tạo ra đƣợc lợi thế cạnh tranh trong doanh nghiệp. Đối với ngƣời lao động, sự cần thiết của việc đào tạo nguồn nhân lực thể hiện ở chỗ: Tạo ra sự gắn bó đối giữa ngƣời lao động và doanh nghiệp; Tạo ra tính chuyên nghiệp của ngƣời lao động; Tạo ra sự thích ứng giữa ngƣời lao động và công việc hiện tại cũng nhƣ tƣong lai; Đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của ngƣời lao động; Tạo cho ngƣời lao động có cách nhìn mới, cách tƣ duy mới trong công việc của họ là cơ sở để phát huy tính sáng tạo của ngƣời lao động trong công việc. Tóm lại, đào tạo nguồn nhân lực của ngân hàng thƣơng mại là nhu cầu tất yếu không chỉ của bản thân ngân hàng, mà còn của từng thành viên trong tổ chức cũng nhƣ của cả cộng đồng.
Nguồn nhân lực của ngân hàng thƣơng mại cần thiết đƣợc đào tạo để phát triển hài hòa, cân xứng và có tính liên tục. Nội dung đào tạo nguồn nhân lực trong Ngân hàng Thƣơng mại Nội dung, quy trình đào tạo nhân lực: Xác định nhu cầu đào tạo Lập kế hoạch đào tạo Triển khai thực hiện kế hoạch đào tạo Đánh giá hiệu quả đào tạo Sơ đồ 1. Quy trình đào tạo nhân lực (Nguồn: Giáo trình Quản trị nguồn nhân lực – Trần Kim Dung, 2015) 13 1. Xác định nhu cầu đào tạo Nhu cầu đào tạo là số ngƣời cần thiết phải đào tạo để đáp ứng đƣợc yêu cầu của công việc đặt ra.
Đào tạo nguồn nhân lực là hoạt động quan trọng để nâng cao năng lực đội ngũ. Xét về mặt tổ chức, đào tạo nâng cao kỹ năng và hiệu quả công việc. Đối với mỗi cá nhân, hoạt động này giúp có đƣợc phát triển và có cơ hội làm tốt hơn vai trò của mình và tăng khả năng thăng tiến. Chính vì vậy, tổ chức và các cá nhân luôn có các nhu cầu đào tạo.