Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh liên kết của các thành viên trong chuỗi cung ứng vải thiều trên địa bàn huyện lục ngạn tỉnh bắc giang

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu kinh doanh liên kết của các thành viên trong chuỗi cung ứng vải thiều trên địa bàn huyện lục ngạn, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Ngoại thương

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2021

122
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Luận Văn Thạc Sĩ

Luận văn thạc sĩ với đề tài Quản Trị Kinh Doanh liên kết chuỗi cung ứng Vải Thiều tại Lục Ngạn, Bắc Giang được thực hiện bởi tác giả Trần Trung Kiên. Mục tiêu chính của nghiên cứu là phân tích vai trò của các thành viên trong chuỗi cung ứng và đề xuất các giải pháp nhằm phát triển các hình thức liên kết. Đề tài này không chỉ có ý nghĩa lý thuyết mà còn mang lại giá trị thực tiễn cho việc nâng cao hiệu quả sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp tại địa phương.

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Tính cấp thiết của đề tài được thể hiện qua sự phát triển mạnh mẽ của ngành nông nghiệp Việt Nam trong những năm qua. Vải thiều là một trong những sản phẩm nông sản chủ lực của tỉnh Bắc Giang, với diện tích trồng lớn và chất lượng cao. Tuy nhiên, việc tiêu thụ sản phẩm vẫn gặp nhiều khó khăn do thiếu sự liên kết giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng. Nghiên cứu này nhằm tìm ra giải pháp cải thiện tình hình này, từ đó nâng cao thu nhập cho người nông dân.

II. Cơ sở lý thuyết về chuỗi cung ứng

Nội dung lý thuyết về chuỗi cung ứng được trình bày rõ ràng trong luận văn. Các khái niệm về liên kết, chuỗi cung ứng và vai trò của các thành viên trong chuỗi cung ứng được phân tích chi tiết. Quản lý chuỗi cung ứng không chỉ là việc tối ưu hóa quy trình sản xuất mà còn là việc tạo ra giá trị cho tất cả các bên liên quan. Việc áp dụng các mô hình liên kết trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trong sản xuất vải thiều, sẽ giúp nâng cao hiệu quả kinh tế và đảm bảo đầu ra ổn định cho sản phẩm.

2.1 Các phương thức liên kết trong chuỗi cung ứng

Luận văn đã chỉ ra rằng có nhiều phương thức liên kết khác nhau trong chuỗi cung ứng vải thiều. Các hình thức liên kết này bao gồm liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp, giữa hộ nông dân và hợp tác xã, cũng như giữa các cơ sở chế biến và thương lái. Mỗi hình thức liên kết đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, và việc lựa chọn hình thức phù hợp sẽ quyết định đến sự thành công của chuỗi cung ứng. Việc tăng cường liên kết sẽ giúp giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả sản xuất.

III. Thực trạng liên kết trong chuỗi cung ứng vải thiều

Thực trạng liên kết giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng vải thiều tại Lục Ngạn được phân tích một cách chi tiết. Nghiên cứu cho thấy rằng mặc dù đã có những nỗ lực trong việc xây dựng mối liên kết, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại. Các hộ nông dân thường gặp khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm do thiếu thông tin và sự hỗ trợ từ các doanh nghiệp. Hơn nữa, sự thiếu chuyên nghiệp trong việc thu gom và chế biến cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này.

3.1 Đánh giá thực trạng chuỗi cung ứng

Đánh giá thực trạng chuỗi cung ứng vải thiều cho thấy rằng sản lượng sản xuất lớn nhưng giá trị gia tăng chưa cao. Các thương lái thường ép giá nông dân, dẫn đến thu nhập không ổn định. Hơn nữa, việc áp dụng công nghệ trong chế biến và bảo quản sản phẩm còn hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm khi đến tay người tiêu dùng. Để cải thiện tình hình này, cần có sự can thiệp từ chính quyền địa phương và các tổ chức hỗ trợ.

IV. Giải pháp tăng cường liên kết trong chuỗi cung ứng

Luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường liên kết trong chuỗi cung ứng vải thiều tại Lục Ngạn. Các giải pháp này bao gồm việc cải thiện hệ thống thông tin, nâng cao năng lực cho các hộ nông dân, và xây dựng các mô hình liên kết hiệu quả hơn. Việc tổ chức các khóa đào tạo cho nông dân về kỹ thuật sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cũng là một trong những giải pháp quan trọng. Ngoài ra, cần có sự hỗ trợ từ chính quyền trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng và kết nối thị trường.

4.1 Đề xuất chính sách hỗ trợ

Đề xuất chính sách hỗ trợ từ chính quyền địa phương là rất cần thiết để thúc đẩy sự phát triển của chuỗi cung ứng vải thiều. Các chính sách này có thể bao gồm việc hỗ trợ tài chính cho các hộ nông dân, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận thị trường, và khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng. Sự phối hợp giữa các bên liên quan sẽ giúp tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp tại địa phương.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh liên kết của các thành viên trong chuỗi cung ứng vải thiều trên địa bàn huyện lục ngạn tỉnh bắc giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG CHUỖI CUNG ỨNG 1. Một số lý luận cơ bản về liên kết trong chuỗi cung ứng 1. Các khái niệm về liên kết, chuỗi cung ứng và các thành viên trong chuỗi cung ứng 1. Liên kết và các nguyên tắc liên kết a.

Liên kết Theo Hoàng Phê thì liên kết là kết lại với nhau từ nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ. Liên kết (tiếng Anh là “integration”) trong hệ thống thuật ngữ kinh tế nó có nghĩa là sự hợp nhất, sự phối hợp hay sát nhập của nhiều bộ phận thành một chỉnh thể. Trước đây khái niệm này được biết đến với tên gọi là nhất thể hoá và gần đây mới gọi là liên kết. Theo Từ điển Kinh tế học hiện đại (David.Pearce, 1999) thì “Liên kết kinh tế chỉ tình huống khi mà các khu vực khác nhau của nền kinh tế thường là khu vực công nghiệp và nông nghiệp hoạt động phối hợp với nhau một cách có hiệu quả và phụ thuộc lẫn nhau, là một yếu tố của quá trình phát triển.

Điều kiện này thường đi kèm sự tăng trưởng bền vững.” Cụ thể hơn có thể hiểu rằng liên kết kinh tế là sự biểu hiện của các hình thức hợp tác giữa các thành phần riêng rẽ, phản ánh mối quan hệ sự phân công lao động trong các quá trình sản xuất xã hội của các ngành, các địa phương, các đơn vị kinh tế, các thành phần kinh tế. Liên kết kinh tế là sự hợp tác, phối hợp giữa các chủ thể kinh tế trên cơ sở tự nguyện nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh theo hướng có lợi nhất. Liên kết kinh tế có thể diễn ra trong mọi ngành sản xuất kinh doanh thu hút sự tham gia của tất cả các chủ thể kinh tế có nhu cầu của mọi thành phần kinh tế và không bị giới hạn bởi phạm vi địa lý. Liên kết kinh tế được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi thông qua hoặc thông qua hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên tham gia và trong khuôn khổ pháp luật của các nhà nước.

Mục tiêu của liên kết kinh tế là tạo 12 ra mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất chuyên môn hoá và hiệp tác hoá, nhằm khai thác tốt tiềm năng của từng đơn vị tham gia liên kết; hoặc để cùng nhau tạo thị trường chung, phân định hạn mức sản lượng cho từng đơn vị thành viên, giá cả cho từng loại sản phẩm nhằm bảo vệ lợi ích của nhau, cùng giúp nhau để có khoản thu nhập cao nhất. Liên kết kinh tế có nhiều hình thức và quy mô tổ chức khác nhau, tương ứng với nhu cầu sản xuất, kinh doanh của các đơn vị thành viên tham gia liên kết. Những hình thức phổ biến là hiệp hội sản xuất và tiêu thụ, nhóm sản xuất, nhóm vệ tinh, hội đồng sản xuất và tiêu thụ theo ngành hoặc theo vùng, liên đoàn xuất nhập khẩu… Các hình thức liên kết, mô hình liên kết sẽ được tác giả trình bày ở mục bên dưới của luận văn. Các nguyên tắc trong liên kết Để các chủ thể tham gia liên kết đạt được mục tiêu phát triển bền vững, các liên kết phải đảm bảo một số nguyên tắc sau: Một là, phải đảm bảo sản xuất kinh doanh của các bên tham gia liên kết đều phát triển và có hiệu quả ngày càng tăng.

Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu xuyên suốt của mọi liên kết. Dù được tiến hành dưới hình thức và mức độ nào thì các quan hệ kinh tế cũng phải đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững của các bên tham gia (Dương Bá Phượng, 1995). Hai là, phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện giữa các bên tham gia liên kết. Các liên kết chỉ thành công và đạt hiệu quả khi được xây dựng dựa trên cơ sở tự nguyện của các bên tham gia để giải quyết những khó khăn hoặc tìm kiếm lợi ích cao hơn thông qua liên kết.

Chỉ khi tự nguyện tham gia các chủ thể liên kết mới phát huy hết mọi năng lực nội tại của mình, xây dựng lên mối quan hệ hiệu quả, bền chặt, vì lợi ích chung, đồng thời đem đến khả năng cùng chịu trách nhiệm về những thất bại hay rủi ro trong liên kết. Mọi liên kết được thiết lập mang tính hình thức hay là kết quả của những quyết định mang tính chủ quan, áp đặt sẽ không thể tồn tại và không thể đem lại lợi ích cho các bên tham gia (Dương Bá Phượng, 1995). 13 Ba là, phải đảm bảo sự thống nhất hài hòa lợi ích kinh tế giữa các bên tham gia liên kết. Trong liên kết kinh tế thì lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy, là chất keo gắn kết lâu dài cho các bên tham gia.

Việc chia sẻ hài hòa lợi ích có tầm quan trọng đặc biệt quyết định sự bền vững của các liên kết nên đòi hỏi phải tìm ra một cơ chế giải quyết thích hợp. Cơ chế đó phải tập trung vào các yêu cầu cơ bản và cấp thiết nhất. Trong từng mối liên kết, từng mặt hàng mà có hình thức và phương pháp giải quyết lợi ích khác nhau. Ngoài cơ chế đó cần đảm bảo cho các bên tham gia được bình đẳng với nhau về quyền lợi cũng như trách nhiệm (Dương Bá Phượng, 1995).

Bốn là, phải được thực hiện trên cơ sở những ràng buộc pháp lý giữa các bên tham gia liên kết và thông qua hợp đồng kinh tế. Hợp đồng kinh tế là khế ước, là những thỏa thuận, những điều khoản ràng buộc trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi giữa các bên tham gia làm ăn với nhau, được pháp luật thừa nhận và bảo hộ. Trong nền kinh tế thị trường và Nhà nước pháp quyền, mọi hoạt động kinh tế đều phải tiến hành trên cơ sở pháp luật Nhà nước cho phép, đồng thời được pháp luật bảo hộ những tranh chấp giữa các bên quan hệ làm ăn với nhau. Cho nên để có những căn cứ pháp lý cho các cơ quan pháp luật phán quyết những tranh chấp giữa các quan hệ kinh tế với nhau đều phải có “khế ước” hay “hợp đồng kinh tế” được ký kết theo đúng pháp luật.

Đối với hoạt động liên kết kinh tế là những mối quan hệ kinh tế ổn định, thường xuyên, lâu dài lại càng cần phải được tiến hành thông qua “hợp đồng kinh tế”. Nó còn là những căn cứ để các bên tiến hành đàm phán giải quyết những bất đồng, tranh chấp nhỏ xảy ra giữa các bên, làm cho các quan hệ liên kết ngày càng bền chặt hơn. Việc thực hiện tốt các hợp đồng kinh tế sẽ tạo thuận lợi cho các bên tham gia liên kết thực hiện tốt kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình (Dương Bá Phượng, 1995). Năm là, đối với các tổ chức liên kết kinh tế, cần phải được tiến hành hoạt động thông qua “điều lệ” của tổ chức liên kết kinh tế đó.

“Điều lệ” là những qui định về tôn chỉ mục đích, nội dung và cơ chế hoạt động của một tổ chức được tự nguyện sáng lập giữa các thành viên. Nó qui định những quyền hạn, quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ của các thành viên gia tổ chức, những điều được phép và không 14 được phép để đảm bảo sự thống nhất hài hòa lợi ích chung của các thành viên và sự tồn tại lâu dài, phát triển của tổ chức. Có thể nói, đây là cơ sở pháp lý để ràng buộc các thành viên tham gia tổ chức lại với nhau (Dương Bá Phượng, 1995).2 Chuỗi cung ứng Cho đến hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về chuỗi cung ứng theo nhiều hướng khác nhau từ đó đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về chuỗi cung ứng. Trong giới hạn của đề tài tác giả xin đưa ra một vài định nghĩa tiêu biểu như sau: Theo định nghĩa của Lambert, Stock và Elleam (1998), chuỗi cung ứng là sự kết hợp giữa các doanh nghiệp nhằm đưa ra sản phẩm hoặc dịch vụ ra thị trường.

Theo định nghĩa của Lee & Bilington (1995), chuỗi cung ứng (supply chain) là hệ thống các công cụ để chuyển hóa nguyên liệu thô từ bán thành phẩm tới thành phẩm và thông qua các hệ thống phân phối chuyển tới người tiêu dùng. Theo định nghĩa của Ganeshan & Harrison (1995) thì chuỗi cung ứng là một chuỗi hay một tiến trình bắt đầu từ nguyên liệu thô cho tới khi sản phẩm làm ra hay dịch vụ tới tay người tiêu dùng cuối cùng. Chuỗi cung ứng (Supply chain) là một mạng lưới các lựa chọn về phân phối và các phương tiện để thực hiện thu mua nguyên vật liệu, biến đổi các nguyên liệu này qua khâu trung gian để sản xuất ra sản phẩm, phân phối sản phẩm này tới tay người tiêu dùng”. Theo định nghĩa của Christopher (2016), chuỗi cung ứng là mạng lưới của những tổ chức liên quan đến những mối liên kết theo dòng chảy ngược và xuôi của những quá trình và những hoạt động khác nhau nhằm tạo ra giá trị trong từng sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng.

Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các doanh nghiệp tham gia vào quy trình sản xuất, vận chuyển và bán sản phẩm đến tay người tiêu dùng, một cách trực tiếp hay một cách gián tiếp. Trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng chuỗi cung ứng (Supply chain) không chỉ bao gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp mà còn các công ty vận tải (logistics), kho vận, nhà bán lẻ và khách hàng của nó. 15 Trong chuỗi cung ứng, hoạt động của mỗi thành phần thuộc chuỗi là quá trình hoạch định, triển khai, kiểm soát dòng hàng hóa, dịch vụ, thông tin liên quan….từ điểm đầu vào của mắt xích này đến đầu vào của mắt xích kế tiếp để đảm bảo sự thống nhất, vận hành trơn tru của toàn chuỗi. Có thể hiểu bản thân mỗi một thành viên trong chuỗi cung ứng lại có một chuỗi cung ứng nội bộ thu nhỏ, bao gồm: Bộ phận sản xuất và các bộ phận chức năng (tài chính, công nghệ thông tin, phát triển sản phẩm mới, tiếp thị, bán hàng, phân phối và dịch vụ khách hàng).

Tóm lại chúng ta có thể nhìn nhận chuỗi cung ứng thông qua 3 hoạt động cơ bản nhất: Cung cấp, sản xuất, phân phối Hình 1: Chuỗi cung ứng điển hình (Nguồn Vilas.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn thạc sĩ "Quản Trị Kinh Doanh Liên Kết Chuỗi Cung Ứng Vải Thiều Tại Lục Ngạn, Bắc Giang" tập trung vào việc phân tích và đề xuất các giải pháp nhằm tối ưu hóa quản lý chuỗi cung ứng cho sản phẩm vải thiều, một loại trái cây đặc sản của vùng Lục Ngạn. Tài liệu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình sản xuất và phân phối mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc liên kết giữa các bên trong chuỗi cung ứng để nâng cao giá trị sản phẩm và tăng cường khả năng cạnh tranh. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích về cách thức quản lý hiệu quả, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn kinh doanh của mình.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến quản lý kinh doanh và chuỗi cung ứng, hãy tham khảo thêm các tài liệu như Luận văn tốt nghiệp một số vấn đề cơ bản về vốn và kế toán huy động vốn tại chi nhánh NHNN PTNN quận Tây Hồ, nơi bạn có thể tìm hiểu về quản lý tài chính trong doanh nghiệp, hay Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh phát triển cho vay hộ kinh doanh tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi, giúp bạn nắm bắt các chiến lược tài chính cho doanh nghiệp nhỏ. Thêm vào đó, Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế tăng cường công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang cũng sẽ cung cấp cái nhìn về quản lý kinh tế trong bối cảnh xã hội. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực quản trị kinh doanh và chuỗi cung ứng.