CHƯƠNG 1. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHAT LƯỢNG NGUON NHÂN LỰC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu 6 ngoài nước Tình hình nghiên cứu quốc tế về chất lượng nguồn nhân lực trong thời gian qua có một số công trình nghiên cứu đáng chú ý sau: + Nghiên cứu của William R.Racey với tác phẩm the Human Resource Glossary: The complete Desk Reference for HR Executive, Managers, and Practitioners (1991) cho răng:” Nguồn nhân lực của tổ chức là tất cả những người làm việc trong t6 chức đó, là tài sản của tổ chức đó nhưng không giống tài lực hoặc vật lực mà tài sản này biết tạo ra các mối quan hệ, giao dịch và làm giàu cho tổ chức”.
Với cách tiếp cận này thi mức độ đem lại gia tri gia tang cho tổ chức. sẽ là thước đo phản ánh chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức đó. Với cách đánh giá này mang tính phiến diện chưa phản ánh thực chất chất lượng của nguồn nhân lực bởi chất lượng nguồn nhân lực đem lại giá trị gia tang cho tổ chức có thể là giá trị hữu hình hoặc giá trị vô hình. + Nghiên cứu của Gill Palmer với công trình British Industrial Relations (993).
Tác giả cho rang “chất lượng nguồn nhân lực được phản ánh thong qua mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động “. Với mỗi quốc gia có môi trường, điều kiện sống và làm việc, tốc độ phát trién kinh tế khác nhau nên việc đánh giá này chỉ mang tính chất tham khảo. + Tác giả lan Saunders trong đề tài nghiên cứu Understanding quality leadership thi lại cho răng “ nếu người quản lý làm tốt chức năng va vai trò lãnh đạo của mình thì các nhân viên sẽ phục tùng và làm theo”. Ngụ ý của tác giả cho rằng chất lượng nguồn nhân lực của một tổ chức chủ yếu phụ thuộc vào người quản lý, phương pháp quản lý của họ.
Với quan điểm này nó mang tính phiến diện, chưa nhìn thấy năng lực tiềm năng của người lao động. Các công trình nghién CỨU trong nước Công trình nghiênc ứu về chât lượng nguôn nhân lực có một sô đáng chú ý sau: + Với bài “ chất lượng nguồn nhân lực, bài toán tổng hợp cần có lời gaiir đồng bộ” của PGS.TS Phùng Rân đã có những nhận định: sự hung thịnh hay suy vong của một quốc gia (mang tầm vĩ mô) hay sự thành công của một tô chức (tam vi mô) đều dựa vào nguồn nhân lực và trình độ của NNL đó. Tuy nhiên tiêu thức chung đánh giá chất lượng NL đó cần phải đánh giá như thế nào và bằng tiêu thức nao thì chưa được tác giả đề cập đến. + Với đề tài “ nâng cao chất lượng đội ngũ công chức quản lý Nhà nước, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá- hiện đại hoá “ của tác giả Nguyễn Bắc Son (2005) đã đi sau vào phân tchs thực trạng đội ngũ cánbộ công chức trong khu vực quản lý công.
Đề tài đã chỉ ra được nhưng ưu điểm và những hạn chế về chất lượng của NNL trong tổ chức công. Tuy nhiên, đề tài chưa chỉ ra được tiêu chí cụ thể đánh giá chất lượng NNL như thé nào? Và cách đánh giá cụ thé ra sao? Và dé tài mới chỉ tập trung nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý công. + Đề tài khoa học cấp nhà nước KHXH 05-03 của GS.TS Nguyễn Phú Trọng về:” luận chứng khoa học cho việc nâng cao chất Iwong] đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đây mạnh CNH,HĐH đất nước” cũng chỉ mới đưa ra quan điểm chung, biện pháp chung nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ mà chưa đi vào chỉ tiết cụ thể về biện pháp, cách thức thực hiện. Đặc biệt mới chỉ đề cập ở cấp vĩ mô, chưa đi vào cấp vi mô của tô chức doanh nghiệp.
Những kết quả nghiên cứu nói trên đã góp phan làm sáng tỏ nhiều van dé lý luận, thực tiễn về chất lượng nguồn nhân lực và là những nguồn tài liệu qúy giá mà tác giả luận văn được kế thừa. Chất lượng đội ngũ nguồn nhân lực trong doanh nghiệp và vai trò của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 1. Các khái niệm về nguôn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực * Nguồn nhân lực: Con người là yếu tố quan trọng nhất dé cấu thành nên một tổ chức mà ở đó người ta phân công, phối hợp cùng với nhau thực hiện các công việc nhằm đạt mục đích chung của cả nhóm. Nói khác đi con người chính là nguồn nhân lực của tổ chức.
Theo đinh nghĩa giáo trình quản trị nguồn nhân lực trường DHKinh tế Quốc dân “nguồn nhân lực cua một tổ chức bao gém tat cả những người lao động làm việc trong tô chức đó, còn nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” (Nguyễn văn Diém, Nguyễn Ngọc Quân, 2004 - tr. 16) - Thé lực là chỉ sức khỏe của con người, nó phụ thuộc vào thể hình, sức vóc và tình trạng sức khỏe của từng người. Mức sống, mức thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc, nghỉ ngơi và chế độ chăm sóc sức khỏe đều ảnh hưởng đến thể lực của người lao động. Ngoài ra, thể lực còn phụ thuộc vào tuổi tác, thời gian làm việc, và giới tính như: tuổi cao thì sức khoẻ suy giảm, nam thì khoẻ hơn nữ, vv.
- Trí lực phản ánh năng lực hiểu biết,khả năng tiếp thu các kiến thức và kỹ năng và khả năng vận dụng chúng vảo trong công việc của người lao động. Trí lực sinh ra vừa có tinh chất bam sinh, vừa được tạo ra qua quá trình đảo tạo, quá trình tích lũy kinh nghiệm trong cuộc sông và làm việc của con người. Ngày nay người ta nghiên cứu nguồn nhân lực dưới nhiều góc độ khác nhau: Trong phạm vi xã hội, nguồn nhân lực là tong thé yếu tố về vật chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động, nó là nguồn cung cấp sức lao động cho toàn xã hội, và phản ánh khả năng lao động của xã hội đó. Xét cụ thé, nguồn nhân lực (bao gồm nhóm dân cư trong độ tuôi lao động có khả năng lao động) là tổng hợp những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động.
Trong phạm vi tổ chức: nguồn nhân lực bao gồm mọi cá nhân tham gia vào các hoạt động với các vai trò khác nhau trong tô chức, nó được coi là nguồn tài nguyên quý báu nhất của tô chức. Trong SXKD: trước đây người ta coi nguồn nhân lực như là một trong các yếu tô đầu vào của sản xuất, do vậy đã dẫn đến việc giới chủ có xu hướng khai thác triệt dé sức lực của người lao động dé thu được giá trị thặng dư tối đa sức lao động của người làm. Ngày nay người ta nhận thấy rang giá trị tiềm năng con người là vô cùng to lớn đặc biệt là trí lực và vì thế người ta xem yếu tố con người là một khoản đầu tư lâu dài. Do tiềm năng trí tuệ con người là vô cùng vô tận, nên những người quản lý, người chủ doanh nghiệp cần phải có kế hoạch đào tạo, phát triển nguồn nhân lực tốt, có chính sách thu hút và khuyến khích người lao động để phát huy trí tuệ của họ.
Giá trị do trí tuệ người lao động làm ra có giá trị cao hơn nhiều lần so với giá trị cơ bắp con người tạo ra. Đây chính là điểm khác biệt lớn giữa quan niệm truyền thống với quan điểm hiện đại. * Chất lượng nguồn nhân lực: Đã có nhiều ý kiến khác nhau về chất lượng nguồn nhân lực, nhưng tựu chung lại đều thống nhất quan điểm chung là “ chát lượng nguồn nhân lực là tổng hợp của nhiều yếu to như trí tuệ, trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, đạo đức, sức khỏe, thẩm mỹ .của người lao động” (Đỗ, Van Phúc , 2004, tr 25). Noi ngắn gon chất lượng nguồn nhân lực có 3 nội dung chính: đạo đức nghề nghiệp, năng lực nghề nghiệp và sức khỏe của người lao động.
- Đạo đức nghề nghiệp là một khái niệm tương đối trừu tượng nhưng có thé nhận biết được thông qua các hành vi, thái độ và được thể hiện qua các nguyên tắc ứng xử cơ bản của mỗi cá nhân đó là: trung thực, tôn trọng các quy tắc nghề nghiệp, tôn trọng mọi người, và tuân thủ pháp luật, tuân thủ các quy định, quy chế của công ty đề ra. Đạo đức nghề nghiệp có ảnh hưởng quan trọng tới kết quả công việc của người lao động, ảnh hưởng tới các mối quan hệ với đồng nghiệp, khách hàng và tới uy tín thương hiệu của Doanh nghiệp. - Năng lực nghề nghiệp hay còn gọi là năng lực chuyên môn đó là sự tông hợp những thuộc tính cơ bản của con người về khả năng đáp ứng được những yêu cầu cơ ban của những ngành nghề nhất định. Năng lực nghề nghiệp là một trong những yếu tố cơ bản nhất quyết định chất lượng lao động của mỗi cá nhân, mỗi nhóm và mỗi tô chức.
Không có năng lực nghề nghiệp cụ thể chung cho tất cả mọi ngảnh nghề, mọi đối tượng mả nó chỉ được cụ thể hóa dựa trên yêu cầu của mỗi ngành nghề và vị trí công tác của mỗi đối tượng cụ thể. Do vậy khi xem xét năng lực chuyên môn chúng ta cần phải xem xét họ đang ở vị trí cấp độ nào trong tổ chức, và thuộc lĩnh vực nghành nghề nào. Yêu cầu năng lực của người t6 trưởng khác với người quản đốc, hoặc trưởng phòng. Người quản lý bán hàng khác với người quản đốc phân xưởng sản xuất.
Vậy năng lực chuyên môn bao gồm những yếu tố nào? Theo Trần, Thị Vân Hoa, (xây dựng năng lực của cán bộ quản lý cấp trung trong doanh nghiệp, 2009- tr 6) thì năng lực chuyên môn bao gồm 3 nội dung cơ bản: Trình độ hiểu biết, kỹ năng nghé nghiệp và hành vi thái độ làm việc của họ + Trình độ hiểu biết kiến thức phải là những kiến thức liên quan đến công việc mà mỗi cá nhân đang đảm nhiệm. Kiến thức bao gồm cả những kiến thức cơ sở và những kiến thức chuyên sâu về nghề nghiệp. Kiến thức nghề nghiệp của mỗi cá nhân có được có thể thông qua quá trình đảo tạo tại các trường lớp, các trung tâm hoặc bản thân họ tự đào tạo qua sách vở, học hỏi đồng nghiệp, qua các hoạt động thực tế. Mức độ hiểu biết của mỗi cá nhân có thé xác định được thông qua việc xem xét các băng cấp hoặc qua các bài kiểm tra đánh giá.