CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở CẤP HUYỆN. Tổng quan về vốn đầu tư xây dựng cơ bản và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước ở cấp huyện. Khái niệm, phân loại vốn đầu tư xây dựng cơ bản 1. Khái niệm Theo Bùi Mạnh Cường (2020): Đầu tư Xây dựng cơ bản 1(Đầu tư XDCB) là hoạt động đầu tư nhằm tạo ra các công trình xây dựng theo mục đích của người đầu tư, là lĩnh vực sản xuất vật chất tạo ra các tài sản cố định (TSCĐ) và tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội.
Đầu tư Xây dựng cơ bản của nhà nước có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong những năm qua nhà nước đã giành hàng chục ngàn tỷ mỗi năm cho XDCB. Để hiểu rõ hơn về những nội dung liên quan đến đầu tư XDCB, cần nghiên cứu một khái niệm sau: Đầu tư công 2là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn lực để thực hiện đầu tư là vốn.
Vốn3 là toàn bộ những yếu tố được sử dụng vào việc sản xuất ra các của cải; vốn tạo nên sự đóng góp quan trọng đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế. Vốn đầu tư công 4gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu 1 Tác giả: Bùi Mạnh Cường 2020 2 Khoản 5 Điều 4 Luật Đầu tư Công 2019 3 Quan điểm của K.Marx 4 Khoản 22 Điều 4 Luật Đầu Tư Công 2019 10 tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư. Vốn đầu tư phát triển 5là bộ phận cơ bản của vốn nói chung. Trên phương diện nền kinh tế, vốn đầu tư phát triển là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những chi phí đã chi ra để tạo ra năng lực sản xuất (tăng thêm tài sản cố định và tài sản lưu động) và các khoản đầu tư phát triển khác.
Từ những quan điểm trên có thể khái niệm: Vốn đầu tư Xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước 6là một phần của vốn đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước được hình thành từ sự huy động của Nhà nước dùng để chi cho đầu tư Xây dựng cơ bản nhằm xây dựng và phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật và kết cấu hạ tầng KT- XH cho nền kinh tế quốc dân. Phân loại vốn đầu tư Xây dựng cơ bản Có nhiều cách phân loại phụ thuộc vào yêu cầu, mục tiêu quản lý của từng loại nguồn vốn và các tiêu chí phân loại khác nhau. Cụ thể có một số cách phân loại như sau: * Theo nguồn hình thành, vốn đầu tư Xây dựng cơ bản được chia thành: Nguồn vốn đầu tư trong nước: bao gồm nguồn thu từ các loại thuế bố trí chi đầu tư, thu tiền sử dụng đất, thu từ hoạt động xổ số kiến thiết; nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước; nguồn vốn Nhà nước vay của nhân dân và doanh nghiệp trong nước thông qua phát hành trái phiếu,. Nguồn vốn đầu tư ngoài nước: chủ yếu là vốn ODA, là nguồn tài chính do các cơ quan chính thức của Chính phủ hoặc của các tổ chức quốc tế viện trợ cho các nước đang phát triển theo 2 phương thức: viện trợ không hoàn lại và cho vay dài hạn với lãi suất thấp.
* Theo cấp ngân sách, vốn đầu tư Xây dựng cơ bản gồm: Vốn đầu tư thuộc NSTW: là các khoản vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà 5 Điều 4 Luật Đầu tư Công 2019 6 Luật Ngân sách Nhà nước 2015 11 nước do các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp TW, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước quản lý. Vốn đầu tư thuộc NSĐP: là các khoản vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước do các tỉnh, thành phố trực thuộc TW, các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và các xã, phương, thị trấn quản lý. * Theo nội dung chi, vốn đầu tư Xây dựng cơ bản bao gồm: Chi phí xây lắp: là khoản vốn dùng cho việc xây dựng và lắp đặt thiết bị đi kèm, bao gồm cả những chi phí lắp đặt gắn với công trình xây dựng và chi phí chạy thử; Chi phí thiết bị: là khoản vốn tạo thành giá trị của máy móc thiết bị đầu tư mua sắm, nó bao gồm: tiền mua thiết bị, chi phí vận chuyển, bốc xếp, chi phí bảo dưỡng, gia công, tinh chế thiết bị kể từ khi mua sắm đến khi thiết bị được lắp đặt hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng. Chi phí khác: là những khoản vốn nhằm đảm bảo điều kiện cho quá trình xây dựng, lắp đặt và đưa công trình vào sản xuất, sử dụng.
Nó bao gồm các khoản vốn chi cho chuẩn bị đầu tư, khảo sát thiết kế, thẩm định thiết kế, dự toán, QLDA, chi phí GPMB, bảo hiểm, quyết toán,… * Theo tính chất đầu tư kết hợp, nguồn vốn đầu tư Xây dựng cơ bản gồm: Vốn Xây dựng cơ bản tập trung: là vốn đầu tư cho các dự án bằng nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc ngân sách nhà nước do các cơ quan TW và địa phương quản lý; nguồn vốn này chủ yếu dùng để đầu tư xây dựng mới các công trình. Vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư: là vốn ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi thường xuyên cho các hoạt động sự nghiệp mang tính chất đầu tư Xây dựng cơ bản để duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp các công trình. * Theo trình tự đầu tư xây dựng cơ bản, vốn đầu tư xây dựng cơ bản 12 bao gồm: Vốn chuẩn bị đầu tư của dự án: là những khoản chi phục vụ cho việc nghiên cứu, khảo sát lập dự án đầu tư; lập, thẩm định thiết kế, dự toán, tổng dự toán công trình,. Vốn thực hiện đầu tư: là tất cả các khoản chi hợp thành giá trị công trình được nghiệm thu bàn giao và đã được quyết toán, bao gồm: chi xây dựng công trình; chi mua sắm, gia công, vận chuyển, lắp đặt thiết bị; chi phí giám sát thi công; chi phí quyết toán dự án hoàn thành và một số khoản chi phí khác phục vụ cho quá trình thực hiện đầu tư.
Đặc điểm của vốn đầu tư Xây dựng cơ bản Đầu tư Xây dựng cơ bản đòi hỏi một lượng vốn lớn và lượng vốn đó không mang tính ổn định hàng năm. Là hoạt động có tính chất lâu dài, kết quả của đầu tư Xây dựng cơ bản là những sản phẩm có giá trị lớn, nên người sử dụng công trình không thể "mua" toàn bộ công trình trong một lúc mà phải "mua" từng phần (từng hạng mục hay bộ phận công trình hoàn thành). Do vậy, việc cấp vốn đầu tư Xây dựng cơ bản phải phù hợp với đặc điểm này; điều đó được thể hiện qua việc chủ đầu tư tạm ứng và thanh toán từng phần cho nhà thầu trong quá trình thi công xây dựng; nhu cầu vốn sử dụng hàng năm cũng khác nhau, tùy thuộc vào tiến độ, khối lượng thi công xây dựng công trình. Chất lượng và giá cả công trình Xây dựng cơ bản chịu ảnh hưởng trực tiếp của các điều kiện tự nhiên, vì sản phẩm xây dựng có tính cố định, gắn liền với đất, nơi sản xuất cũng đồng thời là nơi tiêu thụ sản phẩm, phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện địa chất, thủy văn, khí hậu.
Chi phí đầu tư công trình Xây dựng cơ bản không thể xác định một cách đơn giản, vì sản phẩm Xây dựng cơ bản mang tính chất đơn chiếc, riêng lẻ. Mỗi sản phẩm đều có thiết kế riêng theo yêu cầu của nhiệm vụ thiết kế; khối lượng, chất lượng, giá trị xây dựng công trình đều khác nhau. Vì thế, cần 13 phải xây dựng giá dự toán riêng cho từng công trình tùy theo kết cấu công trình. Sản phẩm Xây dựng cơ bản không qua thị trường tiêu thụ, nó chỉ được kiểm nhận, bàn giao giữa chủ đầu tư và đơn vị thi công tại địa điểm xây dựng sau khi công trình hoàn thành.
* Vốn đầu tư Xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước còn có một số đặc điểm riêng: Quyền sở hữu về vốn không trùng hợp với quyền sử dụng và quản lý vốn, vì thế trách nhiệm quản lý vốn không cao, dễ dẫn đến thất thoát, lãng phí, kém hiệu quả. Động lực cá nhân đối với việc sử dụng hiệu quả đồng vốn không rõ ràng, mạnh mẽ như nguồn vốn tư nhân. Vì vậy, việc quản lý vốn đầu tư Xây dựng cơ bản của Nhà nước rất khó khăn, phức tạp. Vốn đầu tư Xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước thường nhằm vào lĩnh vực ít được thương mại hoá, không thu hồi vốn ngay, khả năng thu hồi vốn thấp, hoặc không thể thu hồi vốn trực tiếp.
Về mục tiêu đầu tư, vốn đầu tư Xây dựng cơ bản của Nhà nước thường ít nhắm tới mục tiêu lợi nhuận trực tiếp, nó phục vụ lợi ích của cả nền kinh tế. Trong khi đầu tư Xây dựng cơ bản của tư nhân và đầu tư nước ngoài thường đề cao lợi nhuận. Về môi trường đầu tư, vốn đầu tư Xây dựng cơ bản của Nhà nước thường thực hiện trong môi trường thiếu vắng sự cạnh tranh; và nếu có sự cạnh tranh thì cũng ít khốc liệt hơn các khu vực đầu tư khác. Về phạm vi đầu tư, nhìn chung Nhà nước chỉ đầu tư vào những nơi có sự thất bại của thị trường, khi mà khu vực vốn khác không thể đầu tư, không muốn đầu tư và không được phép đầu tư, khi Nhà nước cần giải quyết các vấn đề về văn hoá, xã hội, giáo dục, y tế, an ninh quốc phòng.
Việc đầu tư theo vùng miền và theo các ngành kinh tế cũng phải được Nhà nước tính đến.