phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng: 2 z Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về công tác quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng công tác quản lý tài chính tại Trung tâm Hội nghị 37 Hùng Vƣơng. Chƣơng 4: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Trung tâm Hội nghị 37 Hùng Vƣơng 3 z CHƢƠNG1.TỔNG QUANTÌNHHÌNH NGHIÊNCỨUVÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆPCÔNG LẬP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Bài viết ―Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng kinh phí tại cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp‖ của Nguyễn Đức Thọ trên tạp chí tài chính 2016, số 646.
Tác giả đã chỉ ra do điều kiện tổ chức bộ máy các bộ, ngành, địa phƣơng có nhiều cơ quan hành chính sự nghiệp trực thuộc hoạt động chuyên môn trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội… từ đó dẫn đến một số bất cập trong công tác xét duyệt quyết toán hàng năm, công tác kiểm tra nội bộ về quản lý, sử dụng kinh phí tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp. Từ thực tế đó, bài viết đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xét duyệt quyết toán và kiểm tra nội bộ về quản lý, sử dụng kinh phí tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp. Bài báo ―Triển khai cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định mới‖ của Nguyễn Trƣờng Giang trên Tạp chí Tài chính năm 2016, Số 646. Bài báo cho rằng Nghị định 16/2015/NĐ-CP là một chủ trƣơng đứng đắn của Chính phủ với xu hƣớng nâng cao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp.
Vận dụng tốt chính sách sẽ giúp các đơn vị sự nghiệp có cơ hội phát triển, cung cấp dịch vụ công đảm bảo chất lƣợng và dần hƣớng tới tự đảm bảo nguồn thu. Bài viết đã chỉ ra các điểm mới trong nghị định giúp các đơn vị dễ hình dung các loại hình đơn vị sự nghiệp công lập để vận dụng một cách hiệu quả. Bài báo ―Cải cách cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập: Kinh nghiệm từ Trung Quốc‖ của Nguyễn Xuân Thắng trên Tạp chí Tài chính năm 2016, Số 646. Bài viết chỉ ra rằng các đơn vị sự nghiệp Trung Quốc có nhiều nét tƣơng đồng với các đơn vị tại Việt Nam trong quản lý thu chi.
Tuy nhiên, ở Trung Quốc đã đi trƣớc về cơ chế tự chủ trong cơ chế tài chính, nhân sự, bộ máy… Điều này, đã đƣợc tác giả Nguyễn Xuân Thắng đề cập để từ đó vận dụng 4 z cho Việt Nam. Ngoài ra, tác giả cũng đã nêu các phƣơng thức giám sát giúp cho các đơn vị đi đúng hƣớng và hoạt động hiệu quả hơn. Luận văn thạc sỹ ―Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại trƣờng đại học sƣ phạm Hà Nội 2‖ của Nguyễn Hoàng Ngọc năm 2016. Bài viết tập trung vào giải pháp tiết kiệm chi thƣờng xuyên tại đơn vị.
Trong đó khả thi và hiệu quả nhất là áp dụng các hình thức khoán chi, xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ. Bộ quy chế chi tiêu nội bộ nhƣ cuốn kim chỉ nang ngăn ngừa chi vƣợt định mức, chi không đúng mục đích… Tuy nhiên, các giải pháp tăng nguồn thu chƣa gắn với thực tế khi chƣa đề cập đến tác động của địa lý ảnh hƣởng đến công tác tuyển sinh tại đơn vị. Cơ chế tự chủ tài chính của những đơn vị sự nghiệp công lập của Nguyễn Thị Nguyệt trên Tạp chí Công thƣơng năm 2019. Bài viết cho rằng mở rộng quyền tự chủ mang đến nhiều kết quả, góp phần giải phóng sức sản xuất.
Tác dụng tích cực của cơ chế tự chủ tài chính là: Sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm đã thực sự khơi dậy tính năng động sáng tạo không chỉ trong kinh tế, mà còn trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác của đời sống xã hội. Trong khi đó, quyền tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập vẫn đang trong tình trạng triển khai chậm và thấp kém. Do đó, tác giả bài viết tập trung nghiên cứu về cơ chế tự chủ tài chính của những đơn vị sự nghiệp công lập của Việt Nam Các công trình nghiên cứu đều hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý tài chính và làm rõ vai trò của công tác quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Các tác giả đã phân tích thực trạng tại các đơn vị, tuy nhiên mỗi nghiên cứu có những giải pháp khác nhau do tính chất của mỗi đơn vị khác nhau.
Hiện nay các đơn vị sự nghiệp đƣợc phân loại theo mức độ tự chủ và một số tác giả đã nghiên cứu theo loại hình mà đơn vị đang áp dụng.Qua các công trình nghiên cứu có thể nhận thấy rằng, công tác quản lý tài chính có vai trò quan trọng đối tất cả các đơn vị sự nghiệp công lập, đặc biệt trong lĩnh vực phục vụ lƣu trú và nhà hàng. Muốn vậy, cần phải nắm bắt rõ thực trạng tại đơn vị để phát huy những điểm mạnh, hạn chế điểm yếu tạo môi trƣờng lành mạnh tạo đà 5 z phát triển trong tƣơng lai. Tuy nhiên, việc nghiên cứu quản lý tài chính tại môn đơn vị sự nghiệp công lập đặc thù nhƣ Trung tâm hội nghị 37 Hùng vƣơng, vừa phục vụ các nhiệm vụ của chính phủ vừa thực hiện hoạt động kinh doanh để hƣớng tới tự chủ là có điểm riêng và không trùng lắp. Tổng quan về đơn vị sự nghiệp công lập 1.
Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập Để xây dựng một cơ chế quản lý hiệu quả đối với các ĐVSNCL, trƣớc tiên phải xây dựng khái niệm đúng đắn, hoàn chỉnh về ĐVSNCL, mang đầy đủ những đặc điểm về tính chất hoạt động, phƣơng thức qủan lý. Trong những năm qua, các cơ quan nhà nƣớc đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến ĐVSNCL nhƣng lại không đƣa ra khái niệm về các đơn vị này, cho tới khi Luật Viên chức số 58/2010/QH12 ngày 15/11/2010 của Quốc Hội ra đời, Khoản 1, Điều 9 đã đƣa ra khái niệm: “ĐVSNCL là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Đảng, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thành lập; có tư cách pháp nhân cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước‖. Theo Nghị định 16 ban hành ngày 14/12/2015 của Chính phủ về Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập quy định đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công). Hiện nay, hoạt động cung cấp các dịch vụ công thiết yếu không còn là độc quyền của các ĐVSNCL mà có sự bình đẳng về quyền giữa các đơn vị trong và ngoài công lập.
Điểm khác biệt giữa ĐVSNCL và các đơn vị khác là đƣợc thành lập bởi những cơ quan có thẩm quyền của nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập Đặc điểm chính của ĐVSNCL là hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nên các chủ thể trong xã hội khi sử dụng các dịch vụ công đƣợc hƣởng nhiều lợi 6 z ích hơn là những chi phí mà họ phải chi trả. Sản phẩm của ĐVSNCL cung cấp cho toàn xã hội có tính bền vững và lâu dài, gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần cho xã hội. Kết quả của các hoạt động sự nghiệp chủ yếu là tạo ra các sản phẩm hàng hoá công cộng vật chất hoặc phi vật chất phục vụ cho quá trình tái sản xuất xã hội.
ĐVSNCL hoạt động đa dạng trong rất nhiều lĩnh vực, mỗi lĩnh vực khác nhau mang lại sản phẩm khác nhau nhƣ hoạt động giáo dục và đào tạo mang lại những con ngƣời tài đức, hoạt động văn hoá mang lại giá trị tình thần to lớn cho nhân loại, hoạt động sự nghiệp y tế mang lại sức khoẻ cho con ngƣời, hoạt động kinh tế mang lại tiềm lực kinh tế. tạo điều kiện nâng cao chất lƣợng lao động. Khi chất lƣợng lao động ngày càng đƣợc nâng cao thì yêu cầu và việc cung cấp các dịch vụ công nghệ cao cho xã hội ngày càng đóng vai trò quan trọng. Vì vậy hoạt động sự nghiệp luôn gắn bó hữu cơ và có tác động tích cực đến quá trình tái sản xuất xã hội.
Nguồn kinh phí chính để duy trì hoạt động thƣờng xuyên của ĐVSN do ngân sách Nhà nƣớc cấp. Do đó hoạt động của ĐVSN luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chƣơng trình phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động ĐVSNCL đƣợc phép thu một số các loại phí, lệ phí do Nhà nƣớc quy định để tiến hành các hoạt động cung ứng dịch vụ và bù đắp một phần chi phí hoạt động thƣờng xuyên góp phần tăng thu nhập cho ngƣời lao động trong đơn vị. Nguồn thu này gọi là thu sự nghiệp, nó rất quan trọng đối với đơn vị, là một trong những động lực làm cho các ĐVSN hoạt động có hiệu quả hơn, cung ứng các dịch vụ ngày càng tốt hơn cho xã hội.
Đây cũng là nguồn thu góp phần to lớn trong việc giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nƣớc. Trong nền kinh tế thị trƣờng việc duy trì các hoạt động sự nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội. Để thực hiện phát triển các mục tiêu kinh tế xã hội nhất định, trong mỗi thời kỳ, Nhà nƣớc với vai trò lãnh đạo của 7 z mình đã duy trì và phát triển các hoạt động sự nghiệp đem lại lợi ích kinh tế, gắn mục tiêu quốc gia với các chƣơng trình phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc đem lại lợi ích thiết thực cho ngƣời dân. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập Có nhiều cách để phân loại ĐVSNCL, nhƣng thƣờng căn cứ vào khả năng tự đảm bảo nguồn kinh phí hoạt động.
Theo đó việc phân loại ĐVSNCL theo quy định tại điều 9 Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015. - Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động thƣờng xuyên và chi đầu tƣ. - Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động thƣờng xuyên.