Tổng quan nghiên cứu

Huyện Cư M’gar là địa bàn chiến lược về kinh tế, chính trị và quốc phòng thuộc tỉnh Đắk Lắk với tổng diện tích tự nhiên 82.450 ha, dân số 178.199 người gồm 25 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 46%. Tính đến năm 2020, toàn huyện có 57.550 tín đồ thuộc 4 tôn giáo chính, chiếm 32% dân số toàn huyện, tăng đáng kể so với mức 42.376 tín đồ (chiếm 21,6% dân số) vào năm 2012. Đi kèm với sự phát triển kinh tế ổn định với tốc độ tăng trưởng đạt 10,21%/năm và thu nhập bình quân đầu người đạt 85 triệu đồng/năm, đời sống tâm linh, tôn giáo của người dân nơi đây diễn ra hết sức sôi động nhưng cũng tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, nhạy cảm.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là phân tích thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo tại một địa bàn miền núi đa dân tộc, đa tôn giáo. Mục tiêu cụ thể nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn giai đoạn 2012–2021, nhận diện các khó khăn như hiện tượng chuyển đổi đức tin ồ ạt, sự xuất hiện của các tà đạo, vi phạm đất đai và âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch, từ đó xác lập hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý công.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn tại 17 xã, thị trấn của huyện Cư M’gar, tập trung chuyên sâu vào các địa bàn trọng điểm như thị trấn Quảng Phú, xã Ea Đrơng, xã Cuôr Đăng, xã Cư Suê và xã Ea H’đing trong khung thời gian từ khi ban hành Nghị định 92/2012/NĐ-CP đến năm 2021. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để chuẩn hóa quy trình hành chính cho 189 thôn, buôn, nâng cao tỷ lệ xử lý vi phạm pháp luật tôn giáo và giữ vững ổn định an ninh chính trị tại Tây Nguyên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo. Theo quan điểm Mác - Lênin, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hư ảo các lực lượng bên ngoài chi phối đời sống con người, vừa mang tính lịch sử, tính quần chúng, vừa có tính chính trị. Lý thuyết quản trị công hiện đại được tích hợp để giải thích mối quan hệ giữa nhà nước và tổ chức tôn giáo, trong đó quản lý nhà nước là quá trình sử dụng quyền lực công tác động có tổ chức nhằm điều chỉnh các hành vi tôn giáo theo khuôn khổ pháp luật.

Khung phân tích tập trung vào 5 khái niệm nền tảng theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016:

  • Tôn giáo: Niềm tin tồn tại với hệ thống quan niệm, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và cơ cấu tổ chức xác định.
  • Tổ chức tôn giáo: Tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc được Nhà nước công nhận khi hoạt động ổn định từ đủ 5 năm trở lên và có hiến chương rõ ràng.
  • Cơ sở tôn giáo: Chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường và trụ sở hợp pháp.
  • Tín đồ, chức sắc và chức việc: Các thể nhân tôn giáo thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân.
  • Quản lý nhà nước về tôn giáo: Sự thực thi thẩm quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp thông qua 5 phương thức cốt lõi gồm quản lý bằng pháp luật, chính sách, bộ máy cán bộ, vận động quần chúng và công tác thanh tra, kiểm tra.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo định kỳ của Ủy ban nhân dân huyện Cư M’gar, Phòng Nội vụ, Công an huyện giai đoạn 2012–2021 với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương và tỉnh Đắk Lắk.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu tiến hành khảo sát toàn diện 100% các tổ chức tôn giáo chính thức trên địa bàn gồm 25 cơ sở thờ tự và chọn mẫu có chủ đích tại 5 địa bàn trọng điểm có mật độ tín đồ chiếm trên 60% tổng số giáo dân toàn huyện. Lý do lựa chọn phương pháp chọn mẫu có chủ đích là nhằm nắm bắt sâu sắc các đặc thù quản lý tại những điểm nóng về chuyển dịch tôn giáo và tranh chấp đất đai thờ tự.

Phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm thống kê mô tả, so sánh đối chiếu đa chiều, tổng hợp logic và đối sánh kinh nghiệm với mô hình quản lý của huyện Krông Búk (địa bàn có 16.349 tín đồ chiếm 27% dân số). Toàn bộ quy trình thu thập và phân tích dữ liệu được thực hiện xuyên suốt trong 9 năm nhằm đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy khoa học cao nhất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô tín đồ tăng nhanh với sự thay đổi sâu sắc về cơ cấu thành phần. Từ năm 2012 đến năm 2020, số lượng tín đồ tăng từ 42.376 người lên 57.550 người, tương ứng mức tăng trưởng 35,8%. Trong đó, đạo Tin lành chiếm tỷ trọng lớn nhất với 28.310 tín đồ (49,2% tổng số tín đồ toàn huyện), đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 84% tín đồ Tin lành. Đạo Công giáo có 17.840 tín đồ (30,9%), đạo Phật có 11.167 tín đồ (19,4%) và đạo Cao đài có 233 tín đồ (0,5%). Số lượng đồng bào dân tộc thiểu số theo tôn giáo đạt 38.091 người, chiếm 60,67% tổng tín đồ toàn huyện.

Thứ hai, số lượng cơ sở tôn giáo gia tăng nhưng đi kèm nhiều sai phạm về trật tự hành chính. Toàn huyện đã phát triển từ 13 cơ sở năm 2012 lên 25 cơ sở năm 2021. Tuy nhiên, giai đoạn 2012–2021 đã ghi nhận 343 cuộc sinh hoạt tôn giáo trái phép ngoài cơ sở không đăng ký với chính quyền, gồm 203 vụ ở đạo Tin lành, 73 vụ ở đạo Công giáo và 67 vụ ở đạo Phật.

Thứ ba, tình trạng vi phạm pháp luật về đất đai và xây dựng cơ sở thờ tự diễn biến phức tạp. Cơ quan chức năng đã xử lý 54 vụ việc sai phạm nghiêm trọng liên quan đến việc tự ý mua bán, chuyển nhượng đất nông nghiệp để xây dựng công trình tôn giáo trái phép (37 vụ ở Tin lành, 17 vụ ở Phật giáo). Điển hình như tại Giáo họ Thiên Đăng tự ý mua đất lập nghĩa trang hay Dòng tu Nữ Vương Hòa Bình xây dựng trái phép trên đất nông nghiệp tại 5 xã. Riêng Công giáo đang quản lý 7,81 ha đất, trong đó đất thờ tự là 5,26 ha và đất sản xuất nông nghiệp là 2,55 ha.

Thứ tư, sự xâm nhập của các tà đạo và hiện tượng tôn giáo mới như Tin lành Đêgar, Hà Mòn, Pháp Luân Công, Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ, tiềm ẩn nguy cơ gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc và đe dọa trực tiếp đến an ninh trật tự địa phương.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những bất cập trên bắt nguồn từ cả hai phía: nhận thức của một bộ phận cấp ủy, chính quyền cơ sở còn chưa theo kịp thực tiễn; công tác phối hợp liên ngành giữa Nội vụ, Tài nguyên & Môi trường, Xây dựng còn lúng túng. Đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo ở cấp xã 100% là kiêm nhiệm, thường xuyên thay đổi và chưa thông thạo tiếng đồng bào dân tộc thiểu số Êđê. Bên cạnh đó, các thế lực phản động bên ngoài không ngừng lợi dụng vấn đề dân tộc để kích động tư tưởng cực đoan.

Khi so sánh với kinh nghiệm quản lý của huyện Krông Búk, Cư M’gar có quy mô tín đồ lớn hơn gấp 3,5 lần nhưng có sự tương đồng về thách thức an ninh trật tự. Bài học từ Krông Búk chứng minh rằng việc xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh và nâng cao đời sống kinh tế là chìa khóa then chốt để quản lý tôn giáo hiệu quả.

Dữ liệu thực trạng của luận văn có thể được trực quan hóa sinh động qua các biểu đồ đường thể hiện đà tăng trưởng tín đồ giai đoạn 2012–2020 và bảng phân loại chi tiết các hành vi vi phạm hành chính theo từng địa bàn xã. Những phát hiện này khẳng định giá trị thực tiễn to lớn trong việc hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về tôn giáo ở cấp cơ sở.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống quy định và quy chế phối hợp liên ngành. Ủy ban nhân dân huyện Cư M’gar cần chủ trì ban hành Quy chế phối hợp đồng bộ giữa Phòng Nội vụ, Phòng Tài nguyên & Môi trường, Công an huyện và 17 xã, thị trấn trong giai đoạn 2021–2023. Mục tiêu cụ thể là chuẩn hóa 100% hồ sơ pháp lý về quyền sử dụng 7,81 ha đất tôn giáo, xử lý dứt điểm tình trạng mua bán đất nông nghiệp lập điểm nhóm thờ tự trái phép trước năm 2024.

Thứ hai, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực đội ngũ công chức. Phòng Nội vụ phối hợp với Trung tâm Chính trị huyện tổ chức ít nhất 2 khóa bồi dưỡng chuyên sâu/năm về kỹ năng quản trị tôn giáo cho toàn bộ cán bộ cấp huyện và xã. Đặt target metric đạt 80% công chức chuyên trách cấp cơ sở giao tiếp được bằng tiếng Êđê và am hiểu phong tục tập quán bản địa trước năm 2025.

Thứ ba, đổi mới phương thức tuyên truyền và tăng cường vận động quần chúng. Ban Dân vận Huyện ủy và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện cần thiết lập cơ chế đối thoại định kỳ 2 lần/năm với 34 chức sắc, chức việc tiêu biểu. Đẩy mạnh phổ biến Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 và Nghị định 162/2017/NĐ-CP tới 57.550 tín đồ bằng hình thức song ngữ Việt - Êđê, hoàn thành chỉ tiêu 100% các điểm nhóm đăng ký chương trình sinh hoạt hàng năm.

Thứ tư, siết chặt công tác thanh tra, kiểm tra và đấu tranh phòng ngừa tội phạm lợi dụng tôn giáo. Công an huyện phối hợp với Đội kiểm tra liên ngành thực hiện tối thiểu 4 đợt thanh tra định kỳ/năm trên địa bàn 189 thôn, buôn; phát hiện sớm và xóa bỏ hoàn toàn các tụ điểm sinh hoạt tà đạo, giảm 90% số vụ sinh hoạt tôn giáo không phép trong giai đoạn 2021–2026.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác nội vụ, dân tộc, tôn giáo tại các huyện, thị xã thuộc khu vực Tây Nguyên. Luận văn cung cấp cẩm nang thực tiễn với 119 công văn, 63 kế hoạch mẫu và quy trình giải quyết dứt điểm các tranh chấp đất đai, xây dựng cơ sở thờ tự trái phép.

Thứ hai, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý cấp tỉnh như Ban Tôn giáo tỉnh Đắk Lắk. Tài liệu cung cấp cơ sở thực chứng để đánh giá tác động sau 9 năm thi hành Nghị định 92/2012/NĐ-CP và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016, hỗ trợ xây dựng chính sách tôn giáo đặc thù cho vùng Tây Nguyên.

Thứ ba, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý công, Chính sách công và Xây dựng Đảng. Luận văn là mẫu hình tiêu biểu về phương pháp luận nghiên cứu quản lý hành chính đối với vấn đề an ninh phi truyền thống tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ tư, các vị chức sắc, chức việc, người đứng đầu 25 cơ sở tôn giáo trên địa bàn huyện Cư M’gar. Tài liệu giúp các tổ chức tôn giáo nắm vững quyền lợi, nghĩa vụ pháp lý, quy trình đăng ký thành lập 12 chi hội và 19 điểm nhóm, thúc đẩy phương châm sống tốt đời đẹp đạo, đồng hành cùng dân tộc.

Câu hỏi thường gặp

Cơ cấu tín đồ tôn giáo tại huyện Cư M’gar có đặc điểm gì nổi bật so với các địa phương khác? Toàn huyện có 57.550 tín đồ thuộc 4 tôn giáo, chiếm 32% dân số. Điểm đặc thù là đạo Tin lành chiếm đa số với 28.310 tín đồ (49,2%), trong đó 84% là đồng bào dân tộc thiểu số. Tỷ lệ tín đồ dân tộc thiểu số có đạo trên toàn huyện chiếm tới 60,67%, tạo nên cấu trúc tôn giáo gắn chặt với yếu tố sắc tộc bản địa.

Những sai phạm hành chính phổ biến nhất trong hoạt động tôn giáo tại Cư M’gar giai đoạn 2012–2021 là gì? Hai nhóm sai phạm nổi cộm nhất gồm: 343 cuộc sinh hoạt tôn giáo ngoài cơ sở không đăng ký với chính quyền địa phương (203 vụ ở Tin lành, 73 vụ ở Công giáo) và 54 vụ việc tự ý mua bán, chuyển nhượng đất nông nghiệp để xây dựng, cơi nới cơ sở thờ tự trái pháp luật.

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã tác động như thế nào đến công tác quản lý tại địa phương? Luật đã đơn giản hóa thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian công nhận tổ chức tôn giáo từ 23 năm xuống 5 năm hoạt động liên tục. Điều này tạo điều kiện cho Cư M’gar công nhận, chuẩn hóa 25 cơ sở thờ tự kiên cố và cấp phép hoạt động ổn định cho các điểm nhóm Tin lành hợp pháp.

Huyện Cư M’gar đã rút ra bài học kinh nghiệm gì từ mô hình quản lý của huyện Krông Búk? Cư M’gar tiếp thu sâu sắc 4 bài học: thống nhất nhận thức trong toàn hệ thống chính trị, coi vận động quần chúng là cốt lõi theo phương châm trọng dân, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh tại 189 thôn buôn và chuẩn hóa năng lực nói tiếng dân tộc thiểu số cho đội ngũ cán bộ cơ sở.

Chính quyền huyện cần làm gì để ngăn chặn triệt để tình trạng truyền đạo trái phép và tà đạo? Cần kết hợp đồng bộ giữa phát triển kinh tế nâng cao thu nhập trên 85 triệu đồng/năm cho người dân, đẩy mạnh phổ biến pháp luật bằng tiếng Êđê và duy trì 4 đợt thanh tra liên ngành hàng năm nhằm xử lý nghiêm các đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá an ninh trật tự.

Kết luận

  • Luận văn đã phác thảo bức tranh toàn cảnh về đời sống tôn giáo tại huyện Cư M’gar với 57.550 tín đồ, chiếm 32% dân số, trong đó 60,67% là đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Phân tích toàn diện thực trạng quản lý nhà nước qua 9 năm thực hiện Nghị định 92/2012/NĐ-CP và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016, chỉ rõ nguyên nhân của 343 vụ việc sinh hoạt trái phép và 54 sai phạm đất đai.
  • Kế thừa và vận dụng sáng tạo kinh nghiệm thực tiễn từ huyện Krông Búk, khẳng định vai trò quyết định của công tác vận động quần chúng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức kiêm nhiệm.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá với mục tiêu, lộ trình 2021–2026 rõ ràng, tập trung vào hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành, chuẩn hóa 100% hồ sơ đất đai và tăng cường thanh tra xử lý tà đạo.
  • Đóng góp nguồn tài liệu tham khảo học thuật và thực tiễn vô cùng giá trị cho chuyên ngành Quản lý công và công tác tôn giáo tại vùng Tây Nguyên.

Để vận dụng hiệu quả các kết quả nghiên cứu, chính quyền địa phương cần khẩn trương số hóa dữ liệu quản lý tín đồ và triển khai chương trình đào tạo tiếng Êđê cho cán bộ cơ sở trong giai đoạn 2021–2025. Bạn đọc và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn văn luận văn thạc sĩ này để phục vụ công tác quản lý và nghiên cứu chuyên sâu.