Luận văn thạc sĩ về quản lý nhà nước trong đánh bắt xa bờ ở Quảng Ngãi

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu quản lý nhà nước về đánh bắt xa bờ ở quảng ngãi, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực .

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

123
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý nhà nước về đánh bắt xa bờ ở Quảng Ngãi

Quản lý nhà nước về đánh bắt xa bờ là một lĩnh vực quan trọng trong việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản và phát triển kinh tế biển. Tỉnh Quảng Ngãi, với bờ biển dài và nguồn tài nguyên phong phú, đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc quản lý hoạt động đánh bắt xa bờ. Việc nghiên cứu và cải thiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực này không chỉ giúp bảo vệ tài nguyên mà còn nâng cao đời sống của ngư dân.

1.1. Khái niệm và vai trò của đánh bắt xa bờ

Đánh bắt xa bờ là hoạt động khai thác thủy sản diễn ra ở vùng biển xa bờ, nơi có nguồn lợi thủy sản phong phú. Hoạt động này không chỉ tạo ra nguồn thu nhập cho ngư dân mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi.

1.2. Tình hình hiện tại của ngành thủy sản ở Quảng Ngãi

Ngành thủy sản ở Quảng Ngãi đang phát triển mạnh mẽ, với số lượng tàu cá và ngư dân lớn. Tuy nhiên, việc khai thác quá mức và thiếu quản lý hiệu quả đang đe dọa đến nguồn lợi thủy sản và môi trường biển.

II. Những thách thức trong quản lý nhà nước về đánh bắt xa bờ

Quản lý nhà nước về đánh bắt xa bờ ở Quảng Ngãi đang gặp nhiều thách thức. Các vấn đề như khai thác quá mức, ô nhiễm môi trường và thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng đang làm giảm hiệu quả quản lý. Cần có những giải pháp cụ thể để khắc phục tình trạng này.

2.1. Khai thác quá mức và ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản

Khai thác quá mức đang khiến nhiều loài thủy sản trở nên khan hiếm. Việc này không chỉ ảnh hưởng đến sinh kế của ngư dân mà còn đe dọa đến sự bền vững của ngành thủy sản.

2.2. Ô nhiễm môi trường biển và tác động đến đánh bắt

Ô nhiễm môi trường biển do hoạt động sản xuất và sinh hoạt đang làm giảm chất lượng nguồn lợi thủy sản. Điều này đòi hỏi các biện pháp quản lý hiệu quả hơn để bảo vệ môi trường biển.

III. Phương pháp quản lý nhà nước hiệu quả về đánh bắt xa bờ

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đánh bắt xa bờ, cần áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại và phù hợp với thực tiễn. Việc xây dựng chính sách và quy định rõ ràng sẽ giúp ngư dân tuân thủ và bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

3.1. Xây dựng chính sách quản lý và khai thác bền vững

Chính sách quản lý cần được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn, nhằm đảm bảo khai thác bền vững nguồn lợi thủy sản. Các quy định về kích thước lưới và thời gian khai thác cần được thực hiện nghiêm túc.

3.2. Tăng cường công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật

Tuyên truyền và giáo dục pháp luật về đánh bắt xa bờ là cần thiết để nâng cao nhận thức của ngư dân. Việc này giúp họ hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về đánh bắt xa bờ

Nghiên cứu về quản lý nhà nước về đánh bắt xa bờ đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực. Việc áp dụng các giải pháp quản lý hiệu quả đã giúp cải thiện tình hình khai thác thủy sản tại Quảng Ngãi, đồng thời bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

4.1. Kết quả đạt được từ các chính sách quản lý

Các chính sách quản lý đã giúp giảm thiểu tình trạng khai thác quá mức và nâng cao ý thức của ngư dân trong việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Các bài học kinh nghiệm từ việc quản lý đánh bắt xa bờ có thể được áp dụng cho các tỉnh khác, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai cho đánh bắt xa bờ

Quản lý nhà nước về đánh bắt xa bờ ở Quảng Ngãi cần được cải thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và ngư dân để bảo vệ nguồn lợi thủy sản và phát triển kinh tế biển.

5.1. Định hướng phát triển bền vững ngành thủy sản

Định hướng phát triển bền vững ngành thủy sản cần được xây dựng dựa trên cơ sở bảo vệ môi trường và nguồn lợi thủy sản. Các giải pháp cần được thực hiện đồng bộ và hiệu quả.

5.2. Tầm quan trọng của sự hợp tác giữa các bên liên quan

Sự hợp tác giữa các cơ quan quản lý, ngư dân và cộng đồng là rất quan trọng trong việc thực hiện các chính sách quản lý hiệu quả. Điều này sẽ giúp nâng cao hiệu quả bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

14/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về đánh bắt xa bờ ở quảng ngãi

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Những vấn đề lý luận của quản lý nhà nước về đánh bắt xa bờ Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về đánh bắt xa bờ ở Quảng Ngãi Chương 3. Quan điểm, giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về đánh bắt xa bờ tại tỉnh Quảng Ngãi 8 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐÁNH BẮT XA BỜ 1.

Đánh bắt xa bờ 1. Khái niệm, đặc điểm đánh bắt xa bờ 1. Khái niệm Khai thác thủy sản, khai thác hải sản, tàu cá Tại khoản 18, điều 3, Luật Thủy sản 2017 quy định “Khai thác thuỷ sản là hoạt động đánh ắt hoặc hoạt động hậu cần đánh ắt nguồn l i thủy sản”. [33, tr 3] Hoạt động đánh bắt là một hoạt động của con người (ngư dân) thông qua các ngư cụ, ngư thuyền và ngư pháp nhằm khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên.

Hoạt động hậu cần đánh bắt nguồn lợi thủy sản là hoạt động thăm dò, tìm kiếm, dẫn dụ, vận chuyển nguồn lợi thủy sản đánh bắt trong vùng nước tự nhiên. Theo định nghĩa của Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hiệp quốc FAO, “capture fisheries includes oth marine and inland capture fisheries” (khai thác thủy sản bao gồm khai thác thủy sản vùng biển và khai thác thủy sản nội địa). Khai thác hải sản là thuật ngữ mô tả những hoạt động đánh bắt, thu nhặt các tài nguyên sinh vật có ở biển. T những quy định của pháp luật Việt Nam c ng như cách hiểu theo Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hiệp quốc FAO và khái niệm về “hải sản”, ta có thể hiểu khai thác hải sản là một hoạt động khai thác thủy sản và hoạt động khai thác này được thực hiện ở vùng biển.

ên cạnh đó, ta c ng có thể hiểu khai thác thủy sản nội địa là hoạt động khai thác thủy sản, được tiến hành trên sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác. 9 Việc phân biệt giữa khai thác hải sản và khai thác thủy sản nội địa sẽ giúp cho việc quản lý tốt hơn. ởi đặc thù khai thác hải sản sẽ khác so với khai thác thủy sản nội địa, bởi thế cần phải có những chính sách, kế hoạch phát triển, quản lý khác nhau. Một số khái niệm liên quan đến vùng iển Nghị định 26/2019/NĐ-CP ngày 08 tháng 3 năm 2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật thủy sản năm 2017, tại khoản 1, điều 42 quy định vùng biển Việt Nam được phân thành ba vùng khai thác thủy sản như sau: Vùng ven được giới hạn bởi mép nước biển dọc theo bờ biển và tuyến bờ.

Đối với các đảo, vùng ven bờ là vùng biển được giới hạn bởi ngấn nước thủy triều trung bình nhiều năm quanh bờ biển của đảo đến 06 hải lý; Vùng lộng được giới hạn bởi tuyến bờ và tuyến lộng; Vùng khơi được giới hạn bởi tuyến lộng và ranh giới phía ngoài của vùng đặc quyền kinh tế của vùng biển Việt Nam. [9, tr 40] C ng Nghị định này, tại khoản 1, điều 43 quy định về phạm vi khai thác trên mỗi vùng biển đối với tàu đánh bắt nguồn lợi thủy sản căn cứ cụ thể như sau: - Tàu có chiều dài lớn nhất t 15 mét trở lên hoạt động tại vùng khơi, không được hoạt động tại vùng ven bờ và vùng lộng; - Tàu có chiều dài lớn nhất t 12 mét đến dưới 15 mét hoạt động tại vùng lộng, không được hoạt động tại vùng khơi và vùng ven bờ; - Tàu có chiều dài lớn nhất dưới 12 mét hoạt động tại vùng ven bờ không được hoạt động tại vùng lộng và vùng khơi. [9, tr 40] Đánh ắt a Hoạt động khai thác hải sản của mỗi quốc gia về cơ bản sẽ được chia thành: khai thác hải sản ven bờ và khai thác hải sản xa bờ. Tùy thuộc mỗi nước mà sẽ có những quy định khác nhau về khai thác ven bờ và khai thác xa 10 bờ.

Ở Việt Nam, việc phân loại như thế nào là khai thác hải sản xa bờ hay đánh bắt xa bờ, như thế nào là khai thác hải sản ven bờ chưa rõ ràng, gây khó khăn trong việc áp dụng các quy định của pháp luật. Theo quyết định số 393/TTg của Thủ tướng Chính phủ, “Đánh cá xa bờ tạm thời quy định là đánh cá ở vùng biển được giới hạn bởi đường đẳng sâu 30 mét t bờ biển trở ra đối với vùng biển Vịnh ắc ộ, Đông và Tây Nam ộ, Vịnh Thái Lan, và đường đẳng sâu 50 mét t bờ biển trở ra đối với vùng biển miền Trung. Tàu đánh cá xa bờ là tàu có lắp máy chính công suất t 90 CV trở lên; có đăng ký hành nghề đánh cá xa bờ tại địa phương nơi cư trú hoặc giấy phép hành nghề đánh cá xa bờ do cơ quan bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản cấp”. Như vậy, có thể tạm hiểu: đánh bắt xa bờ là đánh bắt ở vùng biển ngoài khơi xa, ngư trường đánh bắt tính t 30 mét độ sâu nước biển, ở khu vực miền Trung là 50 mét.

Trước đây quy định tàu đánh bắt xa bờ phải có lắp máy chính công suất t 90 CV trở lên. Hiện nay, tàu đánh bắt xa bờ phải có chiều dài lớn nhất t 15 mét trở lên, theo như quy định tại nghị định Nghị định 26/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật thủy sản năm 2017. Đặc điểm đánh ắt a Một là, mang tính mùa vụ, phụ thuộc điều kiện khí hậu, địa lý, sinh thái, điều kiện kinh tế - xã hội, thị trường. Đây là nét điển hình nhất của ngành thủy sản, c ng như của hoạt động đánh bắt xa bờ, vì qúa trình khai thác là quá trình tái sản xuất, kinh tế gắn với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất trùng nhau.

o sự biến thiên về điều kiện thời tiết khí hậu, ngư trường, mỗi mùa có t ng loại cá riêng, dẫn đến khai thác mỗi mùa c ng khác nhau. Hai là, đối tượng khai thác là sinh vật biển, chúng là những tài nguyên biển có sẵn, đa dạng 11 Các loại sinh vật biển phát triển theo quy luật sinh học nhất định (sinh trưởng, phát triển và diệt vong). Chúng rất nhạy cảm với mọi yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến sự phát triển và diệt vong. Sinh vật biển với tư cách là tư liệu sản xuất đặc biệt, được khai thác bằng ngư cụ làm tư liệu sản xuất cho chu trình sản xuất.

Và mỗi loài sinh vật biển đều tương thích mới mỗi loại khí hậu, mực nước, vùng biển khác nhau. Chính vì vậy, chúng là những sinh vật có sẵn trong tự nhiên, môi trường nào thích hợp nó sẽ cư trú, sinh sản, phát triển. Ba là, khai thác có tính vùng Khai thác thủy sản là ngành nông nghiệp v a là ngành công nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt. Thế nhưng, ở mỗi ngư trường vùng biển có điều kiện có điều kiện khí hậu, thời tiết, nước biển rất khác nhau.

Khai thác sinh vật biển, là những sinh vật có sẵn trong tự nhiên phụ thuộc cách sinh trưởng và phát triển mỗi nơi mỗi khác, mỗi vùng biển sẽ có những sinh vật biển khác nhau sinh sống. Chính vì vậy, do điều kiện khác nhau như vậy, đòi hỏi quá trình khai thác thủy sản xa bờ cần chú ý các vấn đề kinh tế kỹ thuật sau: - Tiến hành điều tra các nguồn tài nguyên sinh vật biển trên phạm vi biển của cả nước c ng như tính quy hoạch bố trí ngư cụ, nguyên liệu tiến hành khai thác cho phù hợp với chủng loại đó - Việc xây dựng phương hướng tiến hành khai thác phải phù hợp với đặc điểm sinh sản và sinh trưởng của nó. - Hệ thống các chính sách kinh tế phù hợp với t ng điều kiện t ng vùng, t ng khu vực nhất định. - Khai thác tiến hành trong thời điểm khí hậu tốt, không có bão, hay lốc gió khi đã được cảnh báo thiếu an toàn khi ra khơi.

Vai trò đánh bắt xa bờ Khai thác thủy sản dần trở thành thế mạnh trên thương trường xuất khẩu, có tốc tăng trưởng cao, có tỷ trọng G P ngày càng lớn và chiếm một vị thế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nó được thể hiện ở các mặt sau: Thứ nhất là góp phần quan trọng trong tăng trưởng của ngành nông lâm ngư nghiệp Khai thác thủy sản là ngành kinh tế có khả năng tạo ra nhiều giá trị gia tăng. Vì vậy phát triển mạnh khai thác thủy sản, đặc biệt là khai thác thủy sản xa bờ góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp. Để đánh giá vai trò của các khu vực, ngành kinh tế người ta thường sử dụng hai tiêu chí chủ yếu là tốc độ tăng trưởng và tỷ trọng của t ng ngành, t ng khu vực trong toàn bộ nền kinh tế.

Khi sử dụng hai tiêu chí trên cần chú ý hai trường hợp: tốc độ tăng trưởng cao nhưng tỷ trọng nhỏ hoặc nếu tỷ trọng lớn nhưng tốc độ tăng trưởng thấp thì mức độ đóng góp vào tốc độ tăng trưởng chung là thấp. Ngày nay người ta đánh giá mới bằng việc xác định tỷ trọng đóng góp của t ng ngành, t ng khu vực vào tốc độ tăng trưởng chung. Chỉ tiêu này thể hiện rõ hơn và lượng hóa được vai trò của t ng ngành, t ng khu vực trong nền kinh tế. Trong những năm qua tỷ trọng đóng góp của ngành nông lâm thủy sản vào tốc độ tăng trưởng chung có xu hướng tăng dần là do sự chuyển biến tăng trưởng của ngành khai thác thủy sản.

Việc ngành thuỷ sản chú trọng đầu tư ngày một nhiều hơn và đúng hướng đã hình thành tiền đề quan trọng cho sự phát triển kinh tế thuỷ sản, tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực, mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực khai thác và nuôi trồng thuỷ sản được định hướng phát triển phục vụ xuất khẩu đã tạo ra nhiều việc làm và tăng thu nhập cho lao động nghề cá cả nước, góp phần gia tăng giá trị xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế của đất nước. 13 Thứ hai là tạo ra thị trường cho các sản phẩm công nghiệp; góp phần tăng thu ngoại tệ cho đất nước, góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho ngư dân, nông dân vùng nông thôn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quản lý nhà nước về đánh bắt xa bờ tại Quảng Ngãi: Thực trạng và giải pháp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình quản lý hoạt động đánh bắt xa bờ tại tỉnh Quảng Ngãi. Bài viết nêu rõ thực trạng hiện tại, những thách thức mà ngành thủy sản đang đối mặt, cũng như đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả quản lý. Độc giả sẽ nhận thấy những lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về chính sách và quy định liên quan đến đánh bắt xa bờ, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn hoặc tham gia vào các hoạt động bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

Để mở rộng kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ đánh giá hiệu quả chính sách quản lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản nghiên cứu tại hồ Trị An Đồng Nai. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về hiệu quả của các chính sách quản lý nguồn lợi thủy sản, từ đó có thể áp dụng những bài học kinh nghiệm vào thực tiễn tại Quảng Ngãi.