CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ ĐÔ THỊ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về trật tự đô thị 1. Khái niệm quản lý nhà nước về trật tự đô thị * Quan niệm về đô thị Đô thị được hiểu là khu vực dân cư sống tập trung có mật độ dân số cao, mà trong đó lực lượng lao động trong lĩnh vực phi nông nghiệp là chủ yếu, cư dân sống và làm việc theo nếp sống thành thị. Theo Khoản 1 Điều 3 Luật Quy hoạch đô thị, và theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Quy hoạch xây dựng ban hành kèm Thông tư 22/2019/TT-BXD có hiệu lực ngày 01/7/2020 của Bộ xây dựng thì: “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT-XH của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn”.[12, tr 29] Tóm lại, đô thị được hiểu đó là địa bàn khu vực tập trung dân số có mật độ cao của một vùng lãnh thổ nhất định với phần lớn người dân lao động ở lĩnh vực phi nông nghiệp, là trung tâm phát triển kinh tế xã hội, có mạng lưới hạ tầng cơ sở hiện đại nhằm đáp ứng sự phục vụ và phát triển kinh tế xã hội.
* Phân loại đô thị ở Việt Nam Theo Nghị định 42/2009/NĐ-CP, ngày 07/5/2009 của Chính phủ về phân loại đô thị được xem xét, đánh giá trên cơ sở hiện trạng phát triển đô thị tại năm trước liền kề năm lập đề án phân loại đô thị hoặc tại thời điểm lập đề 8 án phân loại đô thị, việc phân loại đô thị dựa vào các tiêu chí sau: Chức năng đô thị; quy mô dân số của đô thị; mật độ dân số phù hợp với quy mô; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp; các yêu cầu về hệ thống công trình hạ tầng đô thị; các yêu cầu về kiến trúc, cảnh quan đô thị. Trên cơ sở đó, có các loại đô thị sau: Một là, đối với đô thị đặc biệt có quy mô số dân tối thiểu từ 5000.000 trở lên, với mật độ dân số trong nội thành từ 15 ngàn người/km2, có tỷ lệ LĐ ở lĩnh vực phi nông nghiệp trên tổng lao động phải đạt tối thiểu 90%; và đô thị đặc biệt có hơn 60% tổng số lượng trục phố chính đạt chuẩn về tuyến phố văn minh đô thị. Hai là, đối với đô thị loại I (gồm cả thành phố trực thuộc TW). Trong đó, thành phố trực thuộc TW có quy mô số dân tối thiểu từ 1000.000, với mật độ dân số trong nội thành từ 12 ngàn người/km2; còn với đô thị trực thuộc tỉnh có quy mô số dân tối thiểu từ 500 ngàn, với mật độ dân số trong nội thành từ 10 ngàn người/km2.
Ngoài ra, đối với đô thị loại I nói chung là phải đạt tỷ lệ LĐ phi nông nghiệp ở khu vực nội thành tối thiểu từ 85%; còn những khu đô thị mới phải đạt chuẩn về đô thị kiểu mẫu và đồng thời có hơn 50% tổng số lượng trục phố chính đô thị đạt chuẩn về tuyến phố văn minh đô thị. Ba là, đối với đô thị loại II, trong đó đô thị trực thuộc TW có quy mô số dân phải đạt hơn 800.000 người, với mật độ dân số trong nội thành tối thiểu từ 10 ngàn người/km2. Đô thị trực thuộc tỉnh có quy mô số dân tối thiểu từ 300.000 người, với mật độ dân số trong nội thành tối thiểu từ 8 ngàn người/km2. Mặt khác, đô thị loại II phải đạt tối thiểu 80% LĐ phi nông nghiệp của khu vực nội thành, còn những khu đô thị mới phải đạt chuẩn về đô thị kiểu mẫu; và có hơn 40% tổng số lượng trục phố chính đô thị đạt chuẩn về tuyến phố văn minh đô thị.
9 Bốn là, đối với đô thị loại III có quy mô số dân tối thiểu từ 150.000 người, với mật độ dân số đạt tối thiểu từ 6 ngàn người/km2 trong nội thị - nội thành phải; đạt tối thiểu 75% LĐ phi nông nghiệp trong nội thị - nội thành, còn những khu đô thị mới phải đạt chuẩn về đô thị kiểu mẫu và chiếm hơn 40% tổng số lượng trục phố chính đô thị đạt chuẩn về tuyến phố văn minh đô thị. Năm là, đối với đô thị loại IV có quy mô số dân tối thiểu từ 50.000, với mật độ dân số trong nội thị tối thiểu từ 4 ngàn người/km2, đạt tối thiểu 70% LĐ phi nông nghiệp trong nội thị. Sáu là, đối với đô thị loại V có quy mô số dân tối thiểu từ 40.000 người, với mật độ dân số tối thiểu từ 2.000 người/km2, đạt tối thiểu 65% LĐ phi nông nghiệp trong nội thị. * Quan niệm về trật tự đô thị Trật tự (theo Từ điển Tiếng Việt) là chế độ do nhà nước quy định nhằm giữ gìn an ninh xã hội: là sự sắp xếp đảm bảo theo hàng lối trên xuống, trước sau tuân theo quy tắc nhất định hoặc là bảo đảm trật tự - trị an [42, trang 1041].
Theo đó, trật tự đô thị là sự biểu thị các điều kiện tạo lập một môi trường về tình trạng an ninh, ổn định an toàn dân sự trong phát triển đô thị theo hướng bền vững. Ở một quan niệm khác đã tiếp cận, khái niệm trật tự đô thị là “việc tổ chức và quản lý xã hội của đô thị nhằm bảo đảm môi trường và tình trạng dân sự đối với tất cả mọi công dân trong đô thị, cũng như việc đảm bảo trật tự xã hội đô thị dựa trên cơ sở yếu tố con người và những yếu tố cấu trúc nên xã hội đô thị trong tầm kiểm soát và phát triển” [32; trang 122]. Do đó, trật tự đô thị có thể hiểu đó là sự sắp xếp và điều chỉnh những quan hệ xã hội trong khu vực đô thị hoạt động tuân theo một quy chuẩn phù 10 hợp luật pháp hiện hành nhằm bảo đảm thiết lập một môi trường dân sự đô thị ổn định và phát triển bền vững. Từ các luận giải trên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này tôi đưa ra khái niệm QLNN về trật tự đô thị là việc Nhà nước thực hiện vai trò của mình thông qua việc hoạch định chiến lược, xây dựng các chính sách, lập chương trình, kế hoạch thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật trên các lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai, quản lý quy hoạch, quản lý xây dựng, quản lý nhà và công trình kỹ thuật, công tác vệ sinh môi trường, trật tự an toàn giao thông và trật tự đô thị của địa phương.
Đặc điểm quản lý nhà nước về trật tự đô thị Một là, quản lý nhà nước về lĩnh vực trật tự đô thị do nhiều chủ thể cùng tham gia. Trong đó, những cơ quan lý hành chính nhà nước là chủ thể then chốt, vì nhờ tính đại diện của cơ quan công quyền mang quyền lực Nhà nước, đảm nhiệm việc thực hiện chức năng quản lý điều hành xã hội đô thị. Hai là, quản lý nhà nước về TTĐT dựa trên cơ sở hành lang pháp lý mà nhà nước xác lập, mà công cụ trực tiếp là pháp luật về lĩnh vực TTĐT. Từ việc hoạch định chính sách pháp luật đến quá trình tổ chức thực thi pháp luật về lĩnh vực TTĐT và xử lý vi phạm pháp luật về TTĐT cũng là nội dung căn bản trong quản lý nhà nước về TTĐT.
Ba là, quản lý nhà nước về TTĐT liên quan đến nhiều mặt của xã hội đô thị, nó tác động trực tiếp tới mọi nhu cầu đời sống sinh hoạt của mọi người dân trên địa bàn đô thị, tất cả những hoạt động này không phải lúc nào cũng diễn ra suông sẽ mà thay vào đó nhiều lúc xảy đến các hoạt động mang tính phức tạp, thậm chí khó kiểm soát do sự biến đổi và phát triển khách quan của xã hội đô thị chi phối. Vì vậy, quản lý nhà nước về lĩnh vực TTĐT đặt ra yêu cầu khách quan cần thiết cần phải được tổ chức sắp xếp khoa học, tinh 11 gọn nhưng phải mang tính chuyên nghiệp hiện đại để đáp ứng sự phù hợp với quá trình vận động phát triển đô thị. Bốn là, nội dung của quản lý nhà nước về TTĐT là rất rộng và đa dạng, cụ thể đó là: quản lý trật tự hành chính; quản lý trật tự an toàn giao thông công cộng; quản lý phòng, chống TNXH; quản lý phòng, chống tội phạm; quản lý phòng cháy, chữa cháy; quản lý trật tự xây dựng, quản lý trật tự kinh doanh, chợ buôn bán, quản lý về môi trường… 1. Vai trò quản lý nhà nước về trật tự đô thị Hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực TTĐT sẽ đóng góp vào việc tạo lập môi trường ổn định để phát triển đô thị bền vững, gia tăng tính hợp lý, hiệu quả trong quá trình khai thác sử dụng hạ tầng kỹ thuật và những nguồn lực của đô thị.
Quản lý nhà nước về lĩnh vực TTĐT là yếu tố mở đường, khai thông xúc tác rất quan trọng để bảo đảm sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ, của một quốc gia. Việc giữ gìn TTĐT tốt là cơ sở để đẩy nhanh các hoạt động hợp tác giao lưu, kết nối đồng bộ và thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng và gia tăng chất lượng sống của người dân. Trong khi giới nghiên cứu lĩnh vực kinh tế đặt các vấn đề tới lợi nhuận, hiệu quả kinh tế lên hàng đầu, mà thông thường xem nhẹ vấn đề cung cấp dịch vụ xã hội, bỏ qua yêu cầu khai thác phải phù hợp/ thân thiện môi trường. Còn đối với giới nghiên cứu lĩnh vực xã hội thông thường cũng chỉ chú ý tới vấn đề việc làm, giảm thiểu thất nghiệp, quan tâm mức thu nhập và những vấn đề an sinh xã hội khác.
Vì thế, công tác quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về lĩnh vực TTĐT nói riêng có vai trò can thiệp băng các chính sách điều hành, điều tiết, điều phối sự kết nối các hệ thống nghiên cứu cả kinh tế, xã hội và môi trường nhằm giải quyết các mâu thuẫn 12 đặt ra ở mỗi lĩnh vực; cũng như cân bằng trong thực tiễn những hoạt động này ở các cấp, các ngành trong mối quan hệ kết hợp hài hoà, tạo sự ổn định và phát triển của đô thị.