Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm nghèo, giảm nghèo bền vững 1. Nghèo Nghèo là một khái niệm rộng, luôn thay đổi theo không gian, thời gian và tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, vùng miền mà có nhiều khái niệm.
Đến nay, các nhà nghiên cứu và các tổ chức quốc tế đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau nhưng chưa có sự thống nhất chung. Tại khóa họp của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về phát triển xã hội, tháng 6 năm 2000 tại Genever – Thụy Sỹ. Hội nghị kêu gọi cộng đồng quốc gia cần có chiến dịch “Tấn công nghèo đói” và khuyến nghị các quốc gia cần có chiến lược toàn diện về XĐGN. Tại hội nghị thiên niên kỷ đầu tháng 9 năm 2000 của Liên Hợp Quốc tại Washington-Mỹ, một lần nữa khẳng định: chống nghèo đói là một trong những mục tiêu ưu tiên hàng đầu của cộng đồng quốc tế trong thế kỷ 21.
Trên thế giới vấn đề nghèo đói được xem xét ở nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau, cụ thể là: Hội nghị nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức vào tháng 9/1993 tại BangKok – Thái Lan cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển KTXH và phong tục tập quán của từng địa phương” [13, tr 8]. Hôi nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội ở Copenhagen – Ðan Mạch, tháng 3 năm 1995 nêu ra: “người nghèo là tất cả những ai có thu 10 e nhập thấp hơn dưới 1 USD mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” [13, tr 8]. Khác với định nghĩa do ESCAP đưa ra, định nghĩa này đã phản ánh được tiêu chí nghèo đói về mặt lượng “thu nhập thấp hơn dưới 1USD mỗi ngày cho mỗi người”. Khái quát ở tầm vĩ mô, NHTG đưa ra: “nghèo đói là sự thiếu hụt không thể chấp nhận được trong phúc lợi xã hội của con người, bao gồm cả khía cạnh sinh lý học và xã hội học” [13, tr 8].
Ông Apapia Sen chuyên gia hàng đầu của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho rằng: “nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng” [4, tr 20]. Ngân hàng Thế giới (viết tắt NHTG) còn đưa ra quan điểm: “nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất. Nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như: dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực. Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (viết tắt UNDP) đã đưa ra những định nghĩa nghèo [14, tr.
27] như sau: - Sự nghèo khổ của con người: thiếu những quyền cơ bản của con người như biết đọc, biết viết và được nuôi dưỡng tạm đủ. - Sự nghèo khổ về tiền tệ: thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chi tiêu tối thiểu. - Sự nghèo khổ chung: mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác định như không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu lương thực và phi lương thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở nước này hay nước khác. Việt Nam thừa nhận định nghĩa của ESCAP.
Đồng thời, đưa ra quan điểm: 11 e Nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương tiện. Thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định [21, tr. Theo Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực [9, tr. 457-458]: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có thể thỏa mãn một phần nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng.
Nghèo được xem xét với nghĩa là nghèo tương đối hay nghèo tuyệt đối. Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống như ăn, mặc, nhà ở, nước sinh hoạt, y tế, giáo dục và vệ sinh môi trường. Nghèo tương đối là sự nghèo khổ thể hiện sự bất bình đẳng trong quan hệ phân phối của cải xã hội giữa các nhóm xã hội, các tầng lớp dân cư và vùng địa địa lý [9, tr. Như vậy, nghèo là một phạm trù lịch sử, có tính tương đối.
Tính chất và đặc trưng của nghèo phụ thuộc vào điều kiện địa lý tự nhiên, chính trị, văn hóa và trình độ phát triển KTXH của vùng, miền, quốc gia, khu vực. Đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận thực tiễn, là cơ sở tìm kiếm đồng bộ các giải pháp GNBV, nhất là vùng sâu, vùng DTTS, biên giới, hải đảo,… 1. Giảm nghèo bền vững Hiện nay các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về giảm nghèo tùy theo cách tiếp cận. Giảm nghèo được hiểu là làm giảm tỷ lệ hộ nghèo hay làm giảm số hộ nghèo trên địa bàn, là giảm mức độ nghèo của cộng đồng.
Theo Bộ Lao động - TBXH các chương trình giảm nghèo được hiểu là tập hợp các chính sách, biện pháp và dự án nhằm thúc đẩy khả năng tiếp cận 12 e của người nghèo đến dịch vụ xã hội; hay GN là kết quả từ những nổ lực của nhà nước, cộng đồng và người dân làm cho người dân đạt được mức sống vượt trên mức chuẩn nghèo quy định theo từng giai đoạn cụ thể [5]. Trên thực tế, chuẩn nghèo được đo lường bằng một mức thu nhập cụ thể. Do vậy, GN cũng có thể được hiểu là nâng cao thu nhập nhằm thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu. Điều này đòi hỏi hoạt động hỗ trợ GN phải xác định mục tiêu là thoát nghèo có nghĩa là thỏa mãn các nhu cầu cơ bản ở mức độ cao.
GN được xem trong một tổng thể bao gồm biến động nghèo ở nhiều trạng thái khác nhau như: tái nghèo, nghèo mới, thoát nghèo, cận nghèo,… Cụm từ “giảm nghèo bền vững” đã được một số nghiên cứu đề cập từ những năm trước 2000 nhưng đến năm 2008 mới được sử dụng chính thức ở nước ta tại Nghị quyết số 30a/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo; tiếp đó là Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ về định hướng về giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020. “Bền vững” là không lay chuyển được, là vững chắc [45]. Bền vững là một tiêu chuẩn hay một yêu cầu về sự chắc chắn đối với kết quả giảm nghèo. Mục đích rõ ràng của GNBV chính là đảm bảo hay duy trì thành quả giảm nghèo một cách lâu dài, bền vững [34].
Nếu hiểu “bền vững” với nghĩa duy trì, là vững chắc thì “GNBV được hiểu là tình trạng dân cư đạt được mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập trên mức chuẩn đó ngay cả khi gặp phải cú sốc hay rủi ro”.1: Các tiêu chí phản ánh giảm nghèo bền vững Thỏa mãn các nhu cầu cơ bản Giảm nghèo bền vững Thu nhập tăng và duy trì ở mức cao Thoát nghèo và không tái nghèo Nguồn: Thái Phúc Thành (2014) 13 e Như vậy, GN chỉ có thể thành công nếu được thực hiện theo hướng bền vững. GN theo hướng bền vững được hiểu là phát triển vốn nhân lực của người nghèo, tạo môi trường và điều kiện cho người nghèo có cơ hội trong phát triển, thoát nghèo, vươn lên no ấm. Đây cũng chính là giải quyết tối ưu mối quan hệ giữa GN với tăng trưởng kinh tế mở đường cho GN. Nói cách khác, GN theo hướng bền vững là một trong những nội dung quan trọng của phát triển bền vững (PTBV), vì GNBV chính là tháo gỡ một trong những mắt xích trọng yếu nhất là sự PTBV.
CSGN theo hướng bền vững có nghĩa là phải gắn với phát triển và coi đầu tư cho GN cũng là đầu tư cho phát triển, chăm lo đến con người, hướng vào phát triển con người, xây dựng một xã hội mà ở đó mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Có thể nói rằng, GN vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự PTBV [28]. Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững 1. Quản lý nhà nước Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động có tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước được đặt trong cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân lao động làm chủ" Theo nghĩa hẹp, Quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước. Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình. Chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách, sát 14 e nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ. Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững Từ cách tiếp cận trên, theo tác giả quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững là quá trình tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước của các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương bằng pháp luật, cơ chế, chính sách, tổ chức bộ máy để quản lý, điều hành các hoạt động giảm nghèo nhằm từng bước cải thiện và nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, ổn định và phát triển đất nước, hạn chế tối đa nguy cơ tái nghèo.