CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG PHẬT GIÁO NAM TÔNG 1. Một số khái niệm có liên quan đến đề tài 1. Tôn giáo và hoạt động tôn giáo 1. Khái niệm tôn giáo Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử - xã hội, xuất hiện cách đây hàng ngàn năm và sẽ tồn tại cùng xã hội loài người trong một khoảng thời gian khó đoán định.
Tôn giáo là một khái niệm có nhiều định nghĩa khác nhau. Trong đề tài này, chúng tôi xin phép đưa ra một số định nghĩa cơ bản như sau: Ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, tôn giáo được hiểu như là “Tôn giáo là một hệ thống có tính chất gắn bó của những niềm tin và những thực hành liên quan đến những điều thiêng liêng, nghĩa là sự tách biệt, cấm đoán, những niềm tin và thực hành gắn bó tất cả những ai gia nhập vào một cộng đồng đạo đức, được gọi là Giáo hội” (E. Durkheim); “Tôn giáo là một loại đặc biệt tác động đến cộng đồng. Tôn giáo gắn kết những thế lực siêu nhiên.
Quy định các mối quan hệ giữa các thế lực của chúng với những con người tạo thành lĩnh vực của những hoạt động tôn giáo” (Max Weber); “Tôn giáo là một hệ thống các biểu tượng có tác dụng tạo ra những trạng thái mạnh mẽ, lan tỏa, kéo dài và những động cơ trong những con người bằng cách trình bày có hệ thống những quan niệm về một trật tự tồn tại chung và che phủ những quan niệm này bằng một thực tế tỏa ra rằng những tình trạng và những động cơ dường như là hiện thực duy nhất” (Clifford Geertz); “Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh một cách hư ảo về thế giới bên ngoài nhằm đền bù cho những bất lực của con người trong cuộc sống hàng ngày” (F. Marx cho rằng: “Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự tri giác của con người chưa tìm thấy bản thân mình hoặc lại đánh mất bản thân mình một lần nữa. Con người chính là thế giới những con người, là Nhà nước, là xã hội. Nhà nước 10 e ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo, không phải tôn giáo sáng tạo ra con người mà chính con người sáng tạo ra tôn giáo.
Tôn giáo biến bản chất con người thành tính hiện thực, ảo tưởng, vì bản chất con người không có tính hiện thực thật sự. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những điều kiện xã hội không có tinh thần; tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [8, tr569]. Quan điểm của K.Marx, xem tôn giáo như là sự cứu rỗi (một trái tim, một tinh thần) của những con người đang sống trong sự khủng hoảng, không mang nghĩa của sự phê phán tôn giáo… Ở Việt Nam, tôn giáo được hiểu là “niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách siêu thực (hay hư ảo) với con người, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia. Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tùy thuộc vào từng thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý – văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội/tôn giáo khác nhau” (Đặng Nghiêm Vạn);… Liên quan đến cách giải thích về tôn giáo, lần đầu tiên trong văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt Nam đưa ra cách hiểu về tôn giáo.
Khoản 5, Điều 2, Luật tín ngưỡng, tôn giáo giải thích: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức” [37, tr1]. Về phương diện quản lý nhà nước, khi nói đến một tôn giáo hoàn chỉnh thường được tiếp cận từ góc độ thực thể xã hội với các dấu hiệu cơ bản sau: + Có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi; + Có giáo chủ; + Có tín đồ, người tin theo; + Có tổ chức. Hoạt động tôn giáo Hoạt động tôn giáo ra đời nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của tôn giáo. Hoạt động tôn giáo là thực hiện việc đạo theo một giáo lý, giáo luật, giáo lễ của một tôn giáo cụ thể.
Nó được thực hiện dưới sự hướng dẫn bởi người có chức năng, nhiệm vụ hoặc tự hành lễ của các tín đồ. Hoạt động tôn giáo được diễn ra tại nơi thờ tự hoặc tư gia của các tín đồ. Theo quy định tại Khoản 11, Điều 2, Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016 thì “Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức tôn giáo” [37, tr2]. Trong đó truyền bá tôn giáo (còn gọi là truyền đạo) là việc tuyên truyền những lý lẽ về sự ra đời, về luật lệ của tôn giáo.
Thông qua hoạt động truyền đạo, niềm tin tôn giáo của các tín đồ được củng cố, luật lệ trong tôn giáo được tín đồ thực hiện. Đối với những người chưa phải là tín đồ, hoạt động truyền đạo giúp họ hiểu, tin và theo tôn giáo. Sinh hoạt tôn giáo là việc bày tỏ niềm tin tôn giáo, thực hành giáo lý giáo luật, lễ nghi tôn giáo. Tổ chức tôn giáo là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo.
Hoạt động quản lý tổ chức tôn giáo nhằm thực hiện quy định của giáo luật, hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo, đảm bảo duy trì trật tự, hoạt động trong tổ chức tôn giáo. Phật giáo và Phật giáo Nam Tông 1. Phật giáo Phật giáo là một tôn giáo và triết lý do Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni) khởi xướng, ông sinh trưởng ở phía Bắc Ấn Độ vào thế kỷ VI trước công nguyên. Thích Ca Mâu Ni vốn là một hoàng tử tên là Tất Đạt Đa.
Phụ thân ngài là vua Tịnh Phạn (Shuddhodana, Zas gtsang-ma). Mẫu thân của Ngài là Ma Gia (Maya-devi, Lha-mo sGyu-‘phrul-ma). Đức Phật được thụ thai một 12 e cách thần kỳ trong giấc mơ, bà Ma Gia thấy con voi trắng sáu ngà đi vào bên hông bà và lời tiên tri của nhà hiền triết A Tư Đà (Asita), rằng đứa bé sẽ trở thành một ông vua vĩ đại, hoặc một nhà hiền triết cao quý; hoàng tử còn được gọi là Thích Ca Mâu Ni (hay Shakyamuni) có nghĩa là "nhà hiền triết của bộ tộc Thích Ca" (hay bộ tộc Shakya). Ông đã từng có vợ và con trai, nhưng sau đó đã từ bỏ tất cả để đi tìm đạo, cứu vớt chúng sinh.
Từ Ấn Độ, Phật Giáo lan truyền dần sang các nước lân cận, rồi toàn khu vực châu Á và cuối cùng toàn cả thế giới. Sự truyền bá này đi theo 2 hướng: về hướng Bắc, về phương Nam. Về phương Bắc, thì gọi là Phật Giáo Bắc Tông (mang tư tưởng Đại Thừa) gồm các vùng: Tây Tạng, Trung Hoa, Mông cổ, Mãn Châu, Bắc - Nam Hàn, Nhật Bản, Bắc Việt Nam. Về phương Nam, thì gọi là Nam Tông (mang tư tưởng Tiểu Thừa) gồm các vùng: Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Kampuchia, Indonesia, Nam Việt Nam.
Đại thừa tức là "cỗ xe lớn" hay còn gọi là Đại Thặng tức là "bánh xe lớn" là một trong hai trường phái lớn của đạo Phật. Xuất hiện trong thế kỉ thứ nhất trước công nguyên, phái này tự nhận là cỗ xe lớn nhờ dựa trên tính đa dạng của giáo pháp để mở đường cho một số lớn chúng sinh có thể giác ngộ. Cả hai Tiểu thừa và Đại thừa đều bắt nguồn từ vị Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni, nhưng khác nhau nơi sự quan tâm về thực hành giáo pháp và tư tưởng. Hình tượng tiêu biểu của Đại thừa là Bồ Tát với đặc tính vượt trội là lòng từ bi.
Tiểu thừa hay Tiểu Thặng, nghĩa là "cỗ xe nhỏ" hay "bánh xe nhỏ". Tiểu thừa được một số đại biểu phái Đại thừa thường dùng chỉ những người theo "Phật giáo nguyên thuỷ", "Phật giáo Nam Tông". Nhiều nhà nghiên cứu Phật giáo có ý định thay thế danh từ này nhưng không đạt kết quả vì danh từ này đã khắc sâu trong tư tưởng của nhiều Phật tử. Điểm nổi bật làm cho Phật giáo trở nên đặc sắc hơn các tôn giáo khác là của Phật giáo có giáo lý căn bản, rõ ràng cùng lối giáo huấn nhẹ nhàng 13 e nhưng sâu sắc.
Mục tiêu tối thượng của Phật giáo là giáo huấn cho con người các phương cách thoát khỏi sự đau khổ tạo ra bởi những biến động của đời sống như sinh, lão, bệnh, tử bằng nỗ lực thực nghiệm của chính mình. Phật giáo Nam Tông Phật giáo Nam tông được truyền vào Việt Nam theo con đường của các nhà truyền giáo từ Ấn Độ đi theo đường biển tới Srilanca, Mianma, Thái Lan tới vùng sông Mê Công (Campuchia) và vào vùng các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (phía Nam) của Việt Nam, được đông đảo người dân đặc biệt là đồng bào dân tộc Khmer đón nhận, trở thành tôn giáo của người Khmer, do đó gọi là Phật giáo Nam tông Khmer. (ở Việt Nam còn có Phật giáo Nam tông của người Kinh. Nội dung này tác giả xin trình bày ở một bài viết khác).
Phật giáo Nam tông đã có mặt ở Đồng bằng sông Cửu Long vào khoảng thế kỷ thứ IV. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đại bộ phận các Phum (xóm), Sóc (nhiều xóm hợp thành) của người Khmer đều có chùa thờ Phật. Phật giáo Nam tông Khmer tập trung chủ yếu ở 9 tỉnh (thành phố) Đồng bằng sông Cửu Long như: Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau. Theo phong tục của người Khmer, khi người con trai đến tuổi 12, 13 phải vào chùa tu một thời gian với nhiều ý nghĩa: báo hiếu cho ông bà, cha mẹ; để thể hiện tình cảm, trách nhiệm đối với dân tộc và để tỏ lòng thành kính với Đức Phật… Các thanh niên này cần phải tu tối thiểu ở chùa là một tháng, cũng có thể ở chùa tu lâu dài hoặc suốt đời, tùy theo nhân duyên, căn cơ và ý nguyện của từng người.
Sau thời gian một tháng họ có thể trở lại cuộc sống đời thường bất cứ lúc nào, có thể lập gia đình, làm ăn, tham gia các công việc xã hội, khi muốn họ lại có thể xin vào chùa tu một thời gian rồi sau đó lại có thể trở về với gia đình.