Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước địa phương đối với kinh doanh than đá; Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh than đá trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2013-2015; Chương 3: Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh than đá trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỊA PHƯƠNG ĐỐI VỚI KINH DOANH THAN ĐÁ 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm về quản lý nhà nước địa phương đối với hoạt động kinh doanh than đá - Trước hết ta cần tìm hiểu khái niệm của "Quản lý" rồi sau đó sẽ tiếp cận khái niệm "Quản lý nhà nước".
Quản lý là một phạm trù xuất hiện trước khi có Nhà nước với tính chất là một loại lao động xã hội hay lao động chung được thực hiện ở quy mô lớn. Quản lý được phát sinh từ lao động, không tách rời với lao động và bản thân quản lý cũng là một loại hoạt động lao động. Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành trên quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung. - Quản lý nhà nước.
Với góc độ tiếp cận quản lý nhà nước theo nghĩa rộng: là hoạt động của toàn bộ bộ máy Nhà nước từ cơ quan quyền lực Nhà nước tới các cơ quan hành chính Nhà nước. Do đó, có thể hiểu quản lý Nhà nước theo nghĩa bao quát là nói chức năng tổng thể bộ máy Nhà nước với tư cách là một tổ chức quyền lực và mang tính chất pháp quyền, là tổ chức công quyền quản lý toàn bộ xã hội bằng các hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp. Với góc độ tiếp cận quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp: chính là quản lý hành chính nhà nước trong đó có quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực bao gồm: quản lý nhà nước về kinh tế, quản lý nhà nước về tài chính tiền tệ, quản lý nhà nước về xã hội và phát triển nguồn nhân lực, quản lý nhà nước về văn hóa – giáo dục – y tế, quản lý nhà nước về dân tộc và tôn giáo, quản lý nhà nước về an ninh quốc phòng… Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh là một bộ phận của quản lý nhà nước về kinh tế, thương mại. 11 Tóm lại có thể hiểu quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang tính chất quyền lực Nhà nước, bằng nhiều biện pháp tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước trên cơ sở pháp luật.
Thân Danh Phúc, Giáo trình Quản lý nhà nước về thương mại – trường đại học Thương mại, "Quản lý nhà nước về thương mại là một bộ phận hợp thành của quản lý nhà nước về kinh tế, đó là sự tác động có hướng đích, có tổ chức của các cơ quan quản lý nhà nước về thương mại đến các đối tượng quản lý là chủ thể thương mại cùng với hoạt động trao đổi mua bán của họ thông qua việc sử dụng các công cụ, chính sách và biện pháp quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đặt ra trong điều kiện hội nhập",[8].TS Đỗ Hoàng Toàn, giáo trình quản lý nhà nước về kinh tế - trường đại học Kinh tế quốc dân, "Quản lý về nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhắm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ra, trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế",[16]. Quản lý kinh tế là nội dung cốt lõi của quản lý xã hội nói chung và nó phải gắn chặt với các hoạt động quản lý khác của xã hội. Quản lý nhà nước về kinh tế được thể hiện thông qua các chức năng kinh tế và quản lý kinh tế của Nhà nước. - Từ các khái niệm trên cũng như phạm vi nghiên cứu của đề tài là quản lý nhà nước ở cấp địa phương, tác giả đưa ra khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh than đá như sau: Quản lý nhà nước địa phương đối với hoạt động kinh doanh than đá là một bộ phận của Quản lý nhà nước địa phương và được Nhà nước địa phương sử dụng để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh than đá của địa phương nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra trong phát triển ngành kinh doanh than đá ở một thời kỳ nhất định.
Một số lý thuyết về quản lý nhà nước 1. Lý thuyết của Adam Smith (Bàn tay vô hình) Adam Smith là nhà kinh tế chính trị nổi tiếng ở Anh và trên thế giới, là 12 tiền bối lớn của Mác. Ông có rất nhiều lý luận rất có giá trị và nổi bật phải kể đến lý thuyết ”Bàn tay vô hình” được đưa ra vào năm 1776. Học thuyết này nghiên cứu cơ chế hoạt động của một cơ chế thị trường canh trạnh và nó cũng phản ánh điểm chung của các nhà kinh tế học cổ điển.
Thuyết của Smith chống lại tư tưởng của chủ nghĩa trọng thương (yêu cầu có sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế) Adam Smith cho rằng "Bàn tay vô hình" có nghĩa là: Trong nền kinh tế thị trường, các cá nhân tham gia muốn tối đa hóa lợi nhuận cho mình. Ai cũng muốn thế cho nên vô hình trung đã thúc đẩy sự phát triển và củng cố lợi ích cho cả cộng đồng. Theo Adam Smith, chính quyền mỗi quốc gia không cần can thiệp vào cá nhân và doanh nghiệp, cứ để nó tự do hoạt động kinh doanh; ông kết luận: "Sự giàu có của mỗi quốc gia đạt được không phải do những quy định chặt chẽ của nhà nước, mà do bởi tự do kinh doanh" - Tư tưởng này đã chế ngự trong suốt thể kỉ XIX. Lý thuyết ”Bàn tay vô hình” mang ý nghĩa: tôn trọng quy luật kinh tế khách quan; tôn trọng tư tưởng tự do kinh tế (tự do kinh doanh, tự do sản xuất, tự do cạnh tranh, thị trường tự do.); Nhà nước cần tham gia vào điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô.
Lý thuyết của Keynes (Bàn tay hữu hình) So sánh cách nhìn của Keynes và cách nhìn của Tân cổ điển có thể thấy sự khác biệt nhau căn bản trong quản niệm về vai trò của nhà nước. Nếu Tân cổ điển cho rằng nhà nước không nên điều tiết mà chỉ dựng lại ở chức năng tạo môi trường thì Keynes khẳng định, muốn thoát khỏi khủng hoảng, thất nghiệp và suy thoái nhà nước phải trực tiếp điều tiết kinh tế. Cách thức điều tiết là thông qua những chương trình công cộng và dùng những chương trình này để can thiệp tích cực với hướng kích thích và duy trì tốc độ gia tăng ổn định của tổng cầu. Keneys chủ trương: Đối với giới chủ cần phải tăng tiền lương (chứ không phải cắt giảm tiền lương) để tăng tổng cầu, việc tăng lương vẫn có thể 13 kéo theo sự gia tăng lợi nhuận cho giới chủ nếu có sự can thiệp tích cực của chính quyền nhằm kích tăng trưởng năng suất lẫn sản lượng.
Kenyes cho rằng có thể tăng lương và tăng lợi nhuận (thặng dư) khi và chỉ khi ta nối kết được mức tăng trưởng tiền lương với mức tăng trưởng về năng suất, (Năng suất ở đây chính là năng suất lao động hay sản lượng sản phẩm trong một giờ làm việc của công nhân). Nếu số lượng sản phẩm trong một giờ gia tăng, và nếu số sản phẩm tiêu thụ đối với số sản phẩm thặng dư là một hằng số, thì sản lượng tuyệt đối cho tiêu thụ (lương)và cho thặng dư (lợi nhuận) có thể đồng loạt gia tăng. Như vậy, lý thuyết kinh tế của J. Keneys đã phủ nhận chính sách kinh tế tự do chủ nghĩa của tư bản chủ nghĩa: tự do thả nổi, không cần can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, xã hội tư bản chủ nghĩa tất sẽ không đủ cầu có hiệu quả, từ đó không thể có đầy đủ công ăn việc làm, chủ trương mở rộng chức năng của Nhà nước, can thiệp một cách toàn diện vào kinh tế, cho rằng đây là con đường duy nhất để chế độ kinh tế hiện hành tránh được khủng hoảng toàn diện.
Về mặt vận dụng chính sách cụ thể chủ trương áp dụng chính sách tài chính mở rộng, dùng chính sách lạm phát tiền tệ để thay thế chính sách tiền tệ truyền thống. Lý thuyết của Samuelson. Theo Samuelson hay lý thuyết nền kinh tế hỗn hợp, thị trường là quá trình mà thông qua đó người bán, người mua cọ xát lẫn nhau để xác định giá cả và khối lượng sản phẩm cần sản xuất. Cơ chế thị trường là một hình thức tổ chức kinh tế, trong đó cá nhân người tiêu dùng và các nhà kinh doanh tác động lẫn nhau qua thị trường để xác định ba vấn đề trung tâm của tổ chức kinh tế là: sản xuất cái gì? Như thế nào? Cho ai? Cơ chế thị trường "không phải là một hỗn hợp mà là một trật tự kinh tế".
Theo ông, nền kinh tế thị trường chịu sự điều khiển của hai ông vua: người tiêu dùng và kĩ thuật. Người tiêu dùng thống trị thị trường vì họ tiêu dùng các hàng hóa mà doanh nghiệp sản xuất ra, họ bỏ phiếu bằng đô la. 14 Đồng thời người tiêu dùng chịu sự hạn chế của kĩ thuật. Ông ủng hộ sự kết hợp của cơ chế thị trường và sự điều tiết của nhà nước.
Cơ chế thị trường không phải lúc nào cũng đưa tới kết quả tối ưu mà có những khuyết tật nhất định, nhiều vấn đề thị trường không giải quyết nổi (độc quyền, ô nhiễm môi trường, khủng hoảng, thất nghiệp, sự phân phối bất bình đẳng). Do đó theo Samuelson cần có sự can thiệp của chính phủ (Nhà nước) để khắc phục các khuyết tật. Chính phủ (nhà nước) có 4 chức năng: -Thiết lập khuôn khổ pháp luật: đề ra các quy tắc mà doanh nghiệp, người tiêu dùng và cả chính phủ cũng phải tuân theo. - Sửa chữa,khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường.
- Can thiệp hạn chế độc quyền. - Can thiệp vào các tác động bên ngoài. Vai trò của quản lý nhà nước địa phương 1.