Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ RỪNG SẢN XUẤT 1. Bảo vệ rừng sản xuất 1. Một số khái niệm liên quan Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên, [14]. Rừng sản xuất là loại rừng được sử dụng chủ yếu để cung cấp lâm sản; sản xuất, kinh doanh lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp; du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; cung ứng dịch vụ môi trường rừng.
Đảm bảo các tiêu chí về rừng tự nhiên, rừng trồng theo quy định trên, nhưng không thuộc tiêu chí rừng đặc dụng, rừng phòng hộ. Căn cứ vào nguồn gốc hình thành, rừng sản xuất được phân loại theo các đối tượng sau [20]: - Rừng sản xuất là rừng tự nhiên gồm có: Rừng tự nhiên và rừng được phục hồi bằng biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên; căn cứ vào trữ lượng bình quân trên một hecta rừng tự nhiên được phân loại thành: Rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo, rừng nghèo kiệt và rừng chưa có trữ lượng. - Rừng sản xuất là rừng trồng gồm có: Rừng trồng bằng vốn ngân sách nhà nước, rừng trồng bằng vốn chủ rừng tự đầu tư (vốn tự có, vốn vay, vốn liên doanh, liên kết không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước) hoặc có hỗ trợ của nhà nước và các nguồn vốn khác. Khái niệm bảo vệ rừng: Hiện nay, có rất nhiều các khái niệm khác nhau về BVR.
Theo tác giả Phạm Tùng Đông (2009), BVR là tổng thể các hoạt động nhằm bảo toàn hệ sinh thái hiện có, bao gồm thực vật, động vật rừng, đất lâm nghiệp và các yếu tố tự nhiên khác; phòng, chống những tác động gây thiệt hại đến đa dạng sinh 9 học của rừng, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái. Tác giả Lê Văn Từ (2015) quan niệm rằng BVR là tổng thể các hoạt động của tổ chức và cá nhân tác động vào rừng nhằm phòng, chống những tác động tiêu cực đến rừng để duy trì và phát triển hệ sinh thái rừng, sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác; bảo tồn đa dạng sinh học và giữ gìn cảnh quan môi trường sinh thái, [22]. theo tác giả Nguyễn Thùy Vân năm 2017, [36] cho rằng BVR là hoạt động có chủ đích của con người tác động lên toàn bộ quần thể sinh thái của rừng nhằm duy trì, bảo tồn quần thể sinh thái của rừng (hay tài nguyên rừng). Vai trò của rừng sản xuất Vai trò của rừng sản xuất là một vấn đề không cần phải bàn bạc nhiều bởi nó giữ vai trò vô cùng quan trọng và chủ đạo trong mối quan hệ tương tác giữa môi trường và các sinh vật.
- Về kinh tế - xã hội Rừng sản xuất có vai trò kinh tế quan trọng đối với nền kinh tế nước ta, tạo ra nguồn gỗ, lâm sản ngoài gỗ như: Song, mây, tre, nứa. phục vụ cho nhu cầu của xã hội và đời sống Nhân dân. Trong sản xuất và đời sống, gỗ và các sản phẩm ngoài gỗ được dùng vào nhiều mục đích khác nhau; gỗ dùng làm nguyên liệu cho các ngành giấy, diêm, gỗ trụ mỏ, tà vẹt, xây dựng cơ bản, đặc biệt trong lĩnh vực chế biến và xuất khẩu.