Chương I) Theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ “Về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và người hoạt động không chuyên trách cấp xã” thì Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây: - Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy. - Chủ tich, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân. LV thạc sĩ Quản lý công - Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân. - Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. - Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. - Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam). - Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
Từ những quy định trên đây có thể hiểu: Cán bộ cấp xã là công dân Việt Nam, được bầu cử để giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Đảng uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, người đứng đầu tổ chức chính trị- xã hội ở cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. 11 Như vậy, căn cứ vào các quy định hiện hành thì khái niệm “cán bộ UBND cấp xã” chỉ bao gồm 2 chức danh là Chủ tịch và Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, là “công dân Việt Nam, được bầu cử để giữ chức vụ Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch UBND cấp xã theo nhiệm kỳ, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Có thể nói, cán bộ UBND cấp xã có một vị trí vô cùng quan trọng trong hoạt động quản lý điều hành ở cơ sở, là người đại diện cho Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo đúng chính sách và thẩm quyền được giao. cán bộ UBND cấp xã là những người hàng ngày trực tiếp tiếp xúc với dân, đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống và biến thành hành động cách mạng của quần chúng, là người có vị trí, vai trò rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng và củng cố hệ thống chính trị cơ sở, góp phần thực hiện có hiệu quả công tác quản lý LV thạc sĩ Quản lý công nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội ở các địa phương.
So với đội ngũ cán bộ cấp xã nói chung, cán bộ UBND cấp xã có những đặc điểm sau đây: - Cán bộ UBND cấp xã là những người đang giữ chức vụ (Chủ tịch/ Phó chủ tịch UBND) và được xếp vào bậc lương tương ứng trong hệ thống hành chính nhà nước. - Cán bộ UBND cấp xã là người trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ cụ thể, là những người gần dân, sát dân, trực tiếp đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tế cuộc sống, có vai trò trực tiếp bảo đảm kỷ cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm trật tự xã hội, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật. - Cán bộ UBND cấp xã hầu hết đều là dân địa phương, là người am hiểu các phong tục tập quán, truyền thống dân tộc của địa phương, Họ làm ăn, 12 sinh sống tại xã, có quan hệ họ hàng, láng giềng thân thiết với dân làng, có lợi ích và quan hệ gắn bó với làng xã về mọi mặt: kinh tế, văn hóa, tình cảm, đời sống, sinh hoạt…, là người tập hợp được khối đại đoàn kết toàn dân ở cơ sở, là người phát huy tính tự quản của cộng đồng dân cư. - Cán bộ UBND cấp xã luôn có sự kết hợp chặt chẽ cả bốn yếu tố: người dân, người cùng họ, cùng làng, người đại diện của cộng đồng và người đại diện cho nhà nước ở địa phương.
Bốn yếu tố này vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn, xung đột nhau trong mỗi Cán bộ UBND cấp xã, chi phối các hoạt động của họ, nhất là trong việc giải quyết những vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa các lợi ích cá nhân và cộng đồng. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã Theo Điều 36 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015(tr20- LV thạc sĩ Quản lý công 21, Điều 36, Chương II), Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã là người đứng đầu Ủy ban nhân dân xã và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: - Lãnh đạo và điều hành công việc của Ủy ban nhân dân, các thành viên Ủy ban nhân dân xã; - Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã; thực hiện các nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống quan liêu, tham nhũng; tổ chức thực hiện các biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân; thực hiện các biện pháp quản lý dân cư trên địa bàn xã theo quy định của pháp luật; 13 - Quản lý và tổ chức sử dụng có hiệu quả công sở, tài sản, phương tiện làm việc và ngân sách nhà nước được giao theo quy định của pháp luật; - Giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật, tiếp công dân theo quy định của pháp luật; - Ủy quyền cho Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong phạm vi thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân; - Chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, phòng, chống cháy, nổ; áp dụng các biện pháp để giải quyết các công việc đột xuất, khẩn cấp trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã theo quy định của pháp luật; - Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, ủy quyền. Các Phó chủ tịch UBND cấp xã là người giúp việc Chủ tịch, thực hiện LV thạc sĩ Quản lý công chức năng, nhiệm vụ theo sự phân công của Chủ tịch UBND cấp xã. Khái niệm và các yếu tố cấu thành năng lực cán bộ Ủy ban nhân dân cấp xã.
Khái niệm năng lực của cán bộ Ủy ban nhân dân cấp xã Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành thì năng lực được hiểu là khả năng làm việc tốt. Theo từ điển Tiếng việt của Viện ngôn ngữ học do nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành năm 1997 thì xem: năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên có thể thực hiện một hoạt động nào đó, hoặc theo nghĩa khác là phẩm chất, tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hành động nào đó với chất lượng cao. Trong bất cứ hoạt động nào của con người, để thực hiện có hiệu quả, con người cũng cần phải có một số phẩm chất tâm lý cần thiết và sự kết hợp những phẩm chất này được gọi là năng lực. Như vậy, khi nói đến năng lực 14 cần phải hiểu năng lực không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó mà là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý của cá nhân đáp ứng được những yêu cầu hoạt động và bảo đảm hoạt động đó đạt được kết quả mong muốn.
Khái niệm năng lực được sử dụng ở nhiều phương diện khác nhau như: năng lực công tác, năng lực sản xuất, năng lực quản lý điều hành…. Năng lực bao giờ cũng gắn với một chủ thể nhất định, trả lời cho câu hỏi năng lực của ai, có thể là năng lực của cá nhân, nhóm người, tổ chức hay cộng đồng. Năng lực không mang tính chung chung mà khi nói đến năng lực bao giờ người ta cũng nói đến năng lực thuộc về một hoạt động cụ thể nào đó như: năng lực hoạt động chính trị của hoạt động chính trị, năng lực giảng dạy của hoạt động giảng dạy, năng lực thực thi công vụ trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước… Có nhiều quan niệm đồng nhất năng lực với trình độ, bằng cấp. Tuy LV thạc sĩ Quản lý công nhiên, thực tế cho thấy rằng, trình độ, bằng cấp mới chỉ là một trong các yếu tố quan trọng để hình thành năng lực, là cơ sở để có được năng lực.
Năng lực của một người còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, đó là kỹ năng trong thực tế và thái độ trong công việc của người đó. Năng lực thường có quan hệ mật thiết với quyền lực, hiệu lực và hiệu quả. Quyền lực chỉ là tiền đề cho năng lực, năng lực là thước đo hoặc là chuẩn mực biểu thị quyền lực của bộ máy nhà nước trong thực tiễn đời sống xã hội. Nếu một cá nhân hay một tổ chức nào đó có một khối quyền hạn to lớn do tổ chức trao cho nhưng bản thân họ không có năng lực hoặc năng lực yếu kém thì họ không thể biến khối thẩm quyền đó thành hiện thực, nghĩa là không thể thực hiện được quyền lực của mình.
Từ đó, có thể hiểu: Năng lực là sự tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đạt được kết quả cao nhất theo mục tiêu đặt ra trước. 15 Năng lực là yếu tố rất quan trọng đối với cán bộ UBND cấp xã bởi nó quyết định hiệu quả công việc của cán bộ UBND cấp xã. Để thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình, cán bộ UBND cấp xã cần phải có các kiến thức kỹ năng về hành chính nhà nước và các kiến thức chuyên môn trong quá trình tiến hành các hoạt động quản lý trên địa bàn. Kiến thức của họ còn được trang bị thông qua các loại hình đào tạo, được bồi dưỡng và tự học, còn kỹ năng hành chính là khả năng vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được cán bộ UBND cấp xã lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng, được hình thành trong quá trình học tập, rèn luyện và thực thi nhiệm vụ.