Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng công tác quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp do Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum đại diện làm chủ sở hữu Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về vốn nhà nước tại các doanh nghiệp do Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum đại diện làm chủ sở hữu Kết luận 13 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ QUẢN LÝ VỐN NHÀ N DOANH NGHIỆP. NHUNG VAN DE CHUNG VE QUAN LY VON NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIEP 1. Khái niệm về vốn Nhà nước 'Vốn được xem là nguồn lực vô cùng quan trọng của doanh nghiệp và của toàn bộ xã hội. Bất kỳ đơn vị kinh doanh nào cũng mong muốn gia tăng được.
giá trị của nguồn vốn bỏ ra. Với doanh nghiệp, vốn được hiểu là toàn bộ những giá trị ứng ra ban đầu, được sử dụng trong quá trình đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn không chỉ đóng góp là yếu tố đầu vào quan trọng mà giúp doanh nghiệp khẳng định vị trí trên thị trường. Vốn chính là tài sản vận động nhằm gia tăng thêm giá trị của chính nó cho nên nó là khái niệm mang tính động hơn là tĩnh.
Vốn của DN gắn với nguồn vốn và chủ sở hữu vốn. Vốn nhà nước được hiểu chủ sở hữu chính là nhà nước, có thể nhà trung ương hoặc địa phương. Với chủ sở hữu nhà nước này được các cơ quan quản lý có chức năng khác nhau hình thành nên chủ sở hữu đại diện cho nhà nước trong việc quản lý vốn 'Vốn nhà nước tại các DN thông thường được cấp phát từ ngân sách nhà nước (NSNN). Nguồn vốn này có thể hình thành từ nguồn tín dụng, tài sản, đất đai sở hữu của nhà nước được hình thành trong quá trình phát triển của DN.
Hoặc được chính các DNNN phát triển và trích lập từ lợi nhuận, giá trị tăng thêm qua các lần định giá vốn. Do nguồn vốn của DNNN khá phức tạp nên rất khó khăn trong công tác quản lý vốn tại các DN này. Hiện nay, vốn nhà nước được điều chỉnh theo các văn bản sau: Tại Khoản 44, Điều 4, Chương 1, Luật Đấu thầu năm 2013 quy định: “Vốn nhà nước bao gồm vốn ngân sách nhà nước; công trái quốc gia, trái 14 phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương; vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ; vốn từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh; vốn vay được bảo đảm bằng tài sản của Nhà nước; vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; giá trị quyền sử dụng đất”. Tại Điều 2, Khoản 2, Nghị quyết số 49/2010/QH12 của Quốc hội quy định: "Vốn nhà nước bao gồm vốn ngân sách nhà nước; vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; lầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước và vốn khác do Nhà nước quản lý".
Theo Khoản 8, Điều 3, Luật Quản lý, số 69/2014/QH13 ngày 26/11/2014 thì “Vốn nhà nước tại các DN là vốn được đầu tư, cấp phát hoặc phát triển từ ngân sách nhà nước, vốn tiếp nhận từ các nguồn có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, vốn phát triển từ quỹ đầu tư phát triển tại doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp, vốn tín dụng vay của các tô chức tài chính do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước”. Do vậy, có thể hiểu vốn nhà nước tại DNNN là vốn được đầu tư, cấp phát hoặc phát triển từ ngân sách nhà nước, các quỹ đầu tư của DN, vốn tín dụng vay các tô chức tín dụng cho chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước. Đặc điểm của vốn Nhà nước Theo Nguyễn Thị Kim Đoan (2016) thì đặc điểm vốn nhà nước bao gồm các đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, vốn nhà nước tại DNNN thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước. đóng vai trò là đại diện chủ sở hữu.
Người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại DNNN được bổ nhiệm là hội đồng thành viên hoặc chủ tịch công ty nhằm thay mặt nhà nước quản lý, sử dụng, đầu tư vốn này thông qua hệ thống pháp lý, quy định theo luật 15 Thứ hai, vốn nhà nước cũng như các loại vốn khác là yếu tố lượng hóa giá trị các tài sản của DN. Các hinh thức tài sản này như quỹ tiền mặt, tài sản tài chính, nhà cửa, vật kiến trúc, phương tiện sản xuất. Với nhiều hình thức tài sản khác nhau nên khó khăn trong việc định giá giá trị vốn chính xác, đặc biệt khó khăn trong việc phản ánh kịp thời những biến động về giá trị vốn, nhất là vốn vô hình hoặc những tài sản có hao mòn vô hình cao. Thứ ba, mục đích của vốn nhà nước tại DNNN đảm bảo mục tiêu sinh lời, và lợi ích cho phát triển công cộng.
Tùy vào loại hình kinh doanh khác nhau mà vốn nhà nước có vai trò khác nhau. Ngoài mục tiêu đảm bảo tính kinh tế, cần đảm bảo mục tiêu liên quan đến chính trị, xã hội. mục tiêu khiến cho việc quản lý hành chính và chức năng sở hữu trong quản lý vốn nhà nước cũng gây ra nhiều khó khăn. Thứ tư, với đặc thù nhà nước làm chủ sở hữu đối với vốn, cho nên việc quản lý khá phức tạp.
Do nhà nước là hệ thống với nhiều cơ quan, bộ máy quản lý khác nhau nên việc thực hiện quản lý, giám sát, sử dụng vốn, tài sản nhà nước qua nhiều cấp bậc khác nhau nên tính phức tạp trong quản lý cao. Mặt khác, nhà nước chỉ giao cho cho DN quản lý, sử dụng vốn chứ không phải là chủ sở hữu nguồn vốn đó cho nên cần phân rõ chế độ trách nhiệm trong việc quản lý 1. Khái niệm và mục tiêu của Quản lý vốn Nhà nước a. Khái niệm: Quản lý là sự tác động có hướng đích giữa chủ thể quản lý lên đối tượng.
quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định. Đối với việc quản lý vốn thì đối tượng quản lý chính là vốn của nhà nước tại các DNNN. Vốn tại doanh nghiệp chính là các tài sản của DN sau khi đã được vốn hóa. Quản lý vốn đối với chủ sở hữu chính là đảm bảo mục.
16 tiêu bảo toàn, phát triển, tối đa hóa giá trị tăng thêm và lợi tức vốn sau chu kỳ. Nhu vay, “Quản lý vốn nhà nước tại các DN là sự tác động bằng các quyết định của các cơ quan quản lý nhà nước đối với quá trình hình thành, huy động, sử dụng phần vốn của Nhà nước giao cho DN nhằm đạt các mục. tiêu của Nhà nước trong bảo toàn, phát triển vốn và bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội của từng DN” (Nguyễn Thị Kim Đoan, 2016) Các DNNN địa phương được ủy quyền bởi UBND các cấp tỉnh/ thành phố quản lý và các sở ban ngành trực thuộc. Chính quyền cấp xã, huyện không có chức năng và nhiệm vụ này.
Nguyên tắc quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp + Dam bao rằng các DNNN hoàn thành tất cả các báo cáo và các hoạt động định kỳ và cung cấp chúng đúng thời hạn. + Tắt cả những chênh lệch về kết quả tài chính và phi tài chính giữa thực tế và kết quả đã cam kết đều được ghi lại để báo cáo lên đại diện chủ sở hữu, Chính phủ, Quốc hội. + Giải trình các vấn đề quản trị doanh nghiệp hoặc các chênh lệch kết quả không mong muốn. Hội đồng quản trị có thể giải thích trực tiếp trong cuộc họp với cơ quan đại diện chủ sở hữu.
+ Công bố, công khai thông tin định kỳ về kết quả thực hiện của DNNN so với các mục tiêu đã cam kết hoặc những tiêu chuẩn có liên quan 1.4 Vai trò của quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp Để giúp DN có thể sử dụng hiệu quả vốn nhà nước, công tác quản lý nhà nước của cơ quan làm đại diện chủ sở hữu đóng vai trò quan trọng. Thứ nhất, quản lý nguồn vốn chặt chẽ giúp khai thác nguồn vốn hiệu quả, triệt để, tránh được vốn nhàn rỗi mà không sinh lời Với vai trò này, cơ quan làm đại diện chủ sở hữu cần phải xác định rõ loại hình DNNN, đặc điểm ngành nghề kinh doanh là gì với mục tiêu kinh 17 doanh đang hướng tới mục đích sinh lợi kinh tế hay đảm bảo về lợi ích công cộng. Với các loại hình, mục đích kinh doanh khác nhau, cơ quan chủ quản sẽ thiết lập mục tiêu sử dụng nguồn vốn khác nhau. Với sự phức tạp, đa dạng trong mục tiêu cũng như loại hình kinh doanh của các DN khác nhau, cho nên nhà nước cần đưa ra những giải pháp cụ thể tương ứng với từng loại hình khác nhau.
Hiện nay, các DNNN có vốn đầu tư 100% của nhà nước, cơ quan đại diện chủ sở hữu có quyền quyết định toàn bộ về việc sử dụng vốn và các hoạt động của các DN này. Thứ hai, giúp sử dụng vốn một cách hợp lý và tiết kiệm. 'Việc quản lý vốn nhà nước thực hiện các hoạt động như quản lý đầu tư, hiệu quả sử dụng vốn. Do vậy, cơ quan chủ quản sẽ đánh giá chỉ tiết hiệu quả từng hoạt động mà DNNN dự kiến đầu tư, xem xét kỳ lưỡng li các hoạt động đầu tư này có khả thi không, việc kiểm soát được các dòng tiền này sẽ giúp vốn được sử dụng hợp lý, tiết kiệm, tránh thất thoát không đáng có.
Thứ ba, quản lý nhà nước về vốn một cách chặt chẽ nhằm đảm bảo vốn không bị sử dụng sai mục đích, thất thoát trong quá trình đầu tư. 'Vốn nhà nước được ban giao cho DN sử dụng và làm cho lượng vốn này có khả năng sinh lời. Tuy vậy, trong quá trình triển khai thường xây ra các hiện tượng như thiếu trách nhiệm công vụ, quan liêu, buông lỏng trong quản lý vốn đầu tư tại các DN, hoặc nguồn vốn này dễ bị trục lợi theo lợi ích của cá nhân hoặc theo nhóm. Do vậy, với đặc điểm này cần thiết phải xác định rõ ràng chủ sở hữu đích thực với quyền lợi, trách nhiệm đối với nhà nước tại các DN, cần thiết lập cơ chế quản lý rõ ràng trong việc quản lý vốn.
Ngoài ra, cần có những cơ chế chính sách gắn bó lợi ích doanh nghiệp với người quản lý. Điều này giúp người đại diện quản lý nguồn vốn sẽ có trách nhiệm và nghĩa vụ hơn trong khi quản lý vốn của nhà nước. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ DOANH NGHIỆP.