Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. 10 CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY THUE THU NHAP DOANH NGHIEP 1.
LY LUAN CHUNG VE THUE THU NHAP DOANH NGHIEP 1. Một số khái niệm a. Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp - Trong các sách báo kinh tế trên thế giới, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt đối khái niệm về thuế. Nhiều quan điểm đưa ra mới nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế nên chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung nhất của phạm trù này.
“Theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản C.Mác đã chỉ rõ: “Để đưy trì quyên lực công cộng đó, cân phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế má. “Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đã đưa ra một định nghĩa tương đối cổ điển về thuế: “7huế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyên lực nhằm bù đắp những chỉ tiêu của Nhà Nước "[29] Theo quan niệm gần đây nhất của hai nhà kinh tế Mỹ Makkolhell và Bruy thi: huế là một khoản chuyền giao bắt buộc bằng tiền ( hoặc chuyển giao bằng hàng hoá dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hoá hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là khoản tiền phạt mà toà án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật”. Trên góc độ phân phói thu nhập, người ta định nghĩa: “Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân I nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước đẻ đáp ứng các nhu cầu chỉ tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” Trên góc độ người nộp thuế: “Thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chỉ iêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. “Trên góc độ kinh tế học: “Thuế được xem xét như là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế-xã hội của Nhà nước”.
Từ những quan niệm và góc độ về thuế như trên, có thể đưa ra một khái niệm tổng quát về thuế như sau: “7huế là khoản thu bắt buộc được thể chế hóa bằng pháp luật, các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ nộp cho Nhà nước, để trang trải các nhu cầu chỉ tiêu của Chính phủ ”. - Để hiểu rõ về thuế TNDN trước hết cần tìm hiểu về thu nhập của. doanh nghiệp: thu nhập của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp. thu được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định thường là một năm.
Tuy nhiên, trong thực tế không phải toàn bộ thu nhập của doanh nghiệp đều là đối tượng điều chỉnh của loại thuế này, mà nó chỉ điều chỉnh ở phần thu nhập chịu thuế. “Thu nhập chịu thuế là phần thu nhập làm cơ sở đánh thuế, nó được xác định trên cơ sở các khoản thu nhập nhận được sau khi đã trừ một số khoản chỉ phí để tạo ra thu nhập đó. Tuỳ theo chính sách thuế thu nhập của mỗi nước mà nội dung, phương pháp xác định các khoản miễn trừ và thu nhập chịu thuế có sự khác nhau. Theo giáo trình thuế của Học viện tài chính năm 2008 định nghĩa “Thuế thu nhập doanh nghiệp là sắc thuế tính trên thu nhập chịu thuế của các 12 doanh nghiệp trong kỳ tính thué” [12].
Theo Tai liệu bồi dưỡng cho công chức mới năm 2011 của Tổng cục Thuế định nghĩa: Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế đánh vào thu nhập phát sinh của cơ sở sản xuất kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định thường là một kỳ kinh doanh " [2T]. Khái niệm quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp. Quản lý nói chung là sự tác động của chủ thẻ quản lý tới đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra. Quản lý thuế là hoạt động của hệ thống cơ quan công quyền quản lý thuế nhằm đảm bảo thực thi pháp luật về thuế đối với các đối tượng nộp thuế.
Quản lý thuế TNDN là hoạt động tổ chức, điều hành và giám sát của co quan thuế nhằm đảm bảo người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ thuế vào. NSNN theo đúng quy định của pháp luật. Quản lý thuế TNDN có những nét đặc thù riêng như sau: - Chủ thẻ thực thi các giải pháp thu thuế là các cơ quan thuế từ Trung. ương đến địa phương, các cơ quan thuế được Nhà nước giao trách nhiệm chính cho việc tổ chức quản lý thu thuế.
~ Đối tượng chịu sự quản lý là các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh. ~ Quản lý thu thuế TNDN được quy định bằng pháp luật nên các cơ quan thuế không thẻ tuỳ tiện đề ra các biện pháp quản lý thu thuế trái ngược với quy định của pháp luật. Đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp Đặc điểm của thuế TNDN được thể n bởi các thuộc tính bên trong vốn có của nó. Những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua các giai đoạn phát triển.
Ngoài những đặc điểm chung của thuế là có tính cưỡng chế và tính pháp lý cao, là khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp thì thuế TNDN còn có một số đặc điểm riêng để phân biệt với các sắc thuế khác. 13 và các công cụ tài chính khác. Cụ thể như sau: Thứ nhất: Thuế TNDN là thuế trực thu, đối tượng nộp thuế TNDN là các doanh nghiệp, nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đồng thời cũng là người chịu thuế. Thứ hai: Thuế TNDN phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của các DN hoặc nhà đầu tư.
Thuế TNDN được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế, nên chỉ khi các doanh nghiệp, nhà đầu tư kinh doanh có lợi nhuận mới phải nộp thuế TNDN. Thứ ba: Thuế TNDN là thuế khấu trừ trước Thuế thu nhập cá nhân. vậy, thuế TNDN cũng có thể coi là một biện pháp quản lý thuế thu nhập cá nhân. Thứ tư: Tuy là thuế trực thu song Thuế TNDN không gây phản ứng mạnh mẽ bằng thuế thu nhập cá nhân.
Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp “Thứ nhất: thuế TNDN là khoản thu quan trọng của NSNN. Thuế TNDN là một trong những loại thuế trực thu. Thuế TNDN và thuế thu nhập cá nhân chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu NSNN .Cùng với xu hướng tăng trưởng kinh tế, quy mô của các hoạt động kinh tế ngày càng được mở rộng, hiệu quả kinh doanh ngày cảng cao sẽ tạo ra nguồn thu vẻ thuế TNDN ngày cảng lớn cho NSNN. Thứ hai: thuế TNDN là công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Nhà nước ban hành một hệ thống pháp luật về thuế TNDN áp dụng chung cho các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế, tạo sự bình đăng trong cạnh tranh, góp phần thúc đầy sản xuất phát triển. Như với các doanh nghiệp cùng sản xuất một mặt hàng như nhau, cùng bán giá bán trên thị trường như nhau, nếu cơ sở sản xuất nào. cảng hạ thấp được giá thành sản phẩm, cảng thu được nhiề lợi nhuận thì 14 cảng phát triển mạnh, và ngược lại thì dễ dẫn tới bị phá sản. Thông qua việc xác định phạm vỉ thu thuế và không thu thuế, Nhà nước thê hiện sự ưu đãi của mình đối với một số đối tượng trong xã hội không phải nộp thuế hoặc thể hiện sự khuyến khích của Nhà nước đối với việc phát triển của một lĩnh vực ở một vùng nào đó.
Ngoài việc quy định thuế suất cho các cơ sở sản xuất kinh doanh, Nhà nước cũng đưa ra thuế suất ưu đãi để áp dụng đối với từng ngành nghề, mặt hàng, lĩnh vực thẻ hiện mức độ khuyến khích hay không khuyến khích của Nhà nước đối với những ngành nghề, mặt hàng, lĩnh vực đó trong nêền kinh tế. Không những chỉ khuyến khích đầu tư bằng việc định ra một thuế suất hợp lý, mà thuế TNDN còn được sử dụng là một biện pháp khuyến khích bỏ vốn đầu tư vào các ngành nghề, mặt hàng, các vùng mà Nhà nước cần tập trung khuyến khích đây mạnh sản xuất, khai thác tiềm năng về vốn trong dân cư và của các nhà đầu tư nước ngoài, hỗ trợ các doanh nghiệp khắc phục khó khăn, rủi ro để phát triển sản xuất bằng việc sử dụng biện pháp miễn, giảm thuế TNDN theo mức độ khác nhau. Thứ ba: thuế TNDN là một công cụ của Nhà nước thực hiện chính sách công bằng xã hội. Một trong những mục tiêu của thuế TNDN là tiết thu nhập, đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập xã hội.
Thuế TNDN được áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, không những đảm bảo bình đăng công bằng về chiều ngang mà còn cả công. bằng về chiều dọc. Về chiều ngang, bắt ột doanh nghiệp nào kinh doanh bất cứ hình thức nào nếu có thu nhập chịu thuế thì phải nộp thuế TNDN. Về chiều dọc, cùng một ngành nghề không phân biệt quy mô kinh doanh nếu có thu nhập chịu thuế thì đều phải nộp thuế TNDN.
Với mức thuế suất thống nhất, doanh nghiệp nào có thu nhập cao thì phải nộp thuế nhiều hơn (theo số tuyệt đối) doanh nghiệp có thu nhập thấp. Mục tiêu quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp Công tác quản lý thuế TNDN trong nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được những mục tiêu cơ bản sau đây: Một là, tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời số thu cho NSNN từ các nguồn, các đối tượng trên địa bàn được giao quản lý, trên cơ sở không ngừng nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu. Hai là, phát huy tốt nhất vai trò của thuế trong nền kinh tế. Ba là, tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho người nộp thuế.
NỘI DUNG QUẢN LÝ THUÊ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. Tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế a.