Chương 1: Co sé lý luận về quản lý thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Chương 2: Thực trạng quản lý thuế giá trị gia tăng đối với DNNQD trên địa bàn huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum. Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý thuế giá trị gia tăng đối với DNNQD trên địa bàn huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 6.
Ti lệu chính sử dụng trong đề tài Để xây dựng cơ sở lý thuyết và đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế GTGT, tác giả sử dụng các tài liệu chính sau: - Hà Hữu Dũng (2015), Giáo trình Thuế GTGT, trường Đại học Kinh tế Hồ Chí Minh. Giáo trình cung cấp cho tác giả thêm cơ sở lý luận về thuế GTGT theo các p cận khác nhau như đối tượng chịu thuế, mức đóng, phương thức đóng và các chế độ liên quan, gian lận, trốn thuế, khai gian thuế. và những biện pháp khắc phục. ~ Nguyễn Thị Thanh Hoài (2013) Chống gian lận thuế giá trị gia tăng ở Việt nam hiện nay.
đề tài cấp viện của Viện Khoa học tài chính. cấp cho tác giả éu biết về các hình thức gian lận thuế GTGT ở Việt Nam, làm rõ nguyên nhân gian lận thuế GTGT ở Việt Nam. Dé hạn chế tình trạng gian lận thuế GTGT ở Việt Nam cơ quan thuế đã áp dụng nhiều biện pháp, từ việc hoàn thiện chế độ, chính sách thuế GTGT, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chống gian lận thuế GTGT. - Trần Trọng Khoái (2015), Thuế nhà nước, NXB Lao động, Hà Nội Giáo trình cung cấp các kiến thức cập nhật về luật thuế theo hướng hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng.
Tài liệu tham khảo Nghiên cứu về quản lý thuế GTGT đối với DNNQD trên địa bàn huyện Đắk Hà tác giả tham khảo một số tài liệu sau: - Hoàng Công Huân (2018), Quản lý thuế đối với hoạt động khai thác. tài nguyên, khoáng sản trên địa bàn tỉnh Kon Tum, luận văn thạc sĩ. Luận văn đã tổng quát được công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác tài nguyên, khoảng sản tại Cục Thuế tỉnh Kon Tum. Tác giả đã nêu ra được thực trạng trong công tác quản lý thuế và đề ra những giải pháp nâng cao công tác quản lý thuế.
Tuy nhiên, chưa có những giải pháp cụ thể, thiết thực, phù hợp. - Lê Hoàng Minh (2020), Quản lý thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, luận văn thạc sĩ. Luận văn tập trung làm rõ một số nội dung của quản lý thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh như tuyên truyền, hỗ trợ NNT; lập dự toán thu thuế GTGT đối với DNNQD; tổ chức thu thuế GTGT đối với DNNQD và kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về thuế. - Nguyễn Thị Phương Linh (2018), Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế GTGT đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế, Đại học Kinh tế Huế.
Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và thực tiễn về công tác quản lý thuế GTGT đối với DNNQD, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu thuế GTGT đối với các DNNQD trên dia ban tinh Quang Tri. - Lê Thị Hồng Lũy, Tăng cường kiểm soát thuế giá trị gia tăng tại Cục Thuế tỉnh Bình Định, Luận văn thạc sỹ (năm 2016). “Luận văn đã làm rõ việc kiểm soát thuế giá trị gia tăng ở các khâu trong quá trình thu thuế giá trị gia tăng nhưng các giải pháp đưa ra chủ yếu bám theo các quy trình quản lý thuế, chưa có những giải pháp mang tính thực tế. ~ Vũ Thị Lan Phương, #foàn thiện công tác quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn tinh Dak Lak, Luan van thạc sỹ (năm 2015).
Tác giả đã đưa ra hệ thống các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện công tác lập dự toán thu thuế, đẩy mạnh công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế, công tác quản lý đăng ký, kê khai và hoàn thuế, hiện đại hóa công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về thuế và các giải pháp khác khác. Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã tiến hành thu thập thông tin, tìm hiểu các luận văn tiến sĩ, thạc sỹ có nội dung tương tự đã được công nhận để có thông tin cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn. Mỗi đề tài đều có những nội dung, mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, cách tiếp cận khác nhau. Do thực hiện trong phạm vi không gian và thời gian khác nhau nên các giải pháp đưa ra cũng khác nhau, không thể áp dụng cho các đơn vị khác.
Hơn nữa, tính đến thời điểm hiện tại, chưa có nghiên cứu nào được thực hiện về Quản lý thuế GTGT đối với DNNQD trên địa bàn huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum. Vì vậy nghiên cứu của tác giả là cần thiết, không trùng lặp với các nghiên cứu đã công bồ trước đó. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY THUE GIA TRI GIA TANG DOI VOI DOANH NGHIEP NGOAI QUOC DOANH 1. TONG QUAN VE THUE GIA TRI GIA TANG VA QUAN LY THUE GIA TRI GIA TANG DOI VOI DNNQD 1.
Khái niệm, bản chất và đặc điểm của thuế GTGT a. Khái niệm thuế giá trị gia tang Thuế giá trị gia tăng có nguồn gốc từ thuế doanh thu và Pháp là nước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế giá trị gia tăng - vào năm 1954. Thuế giá trị gia tăng theo tiếng Pháp gọi là: Taxe Sur La Valeur Ajou tée (viết tắc là TVA), tiếng Anh gọi là Value Added Tax (viết tắc là VAT), dịch ra tiếng Việt là thuế giá trị gia tăng. Khai sinh từ nước Pháp, thuế giá trị gia tăng đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới.
Ngày nay, các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu, châu Phi, châu Mỹ La Tinh và một số quốc gia Châu á trong đó có Việt Nam đã chính thức áp dụng thuế giá trị gia tăng. Các quốc gia khác cũng đang trong thời ký nghiên cứu loại thuế này. Tính đến nay đã có khoảng 130 quốc gia áp dụng thuế giá trị gia tăng. Ở nước ta, tai ky hop lần thứ 11 Quốc hội khoá 9, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật thuế giá trị gia tăng và có hiệu lực thi hành kẻ từ ngày 01-01-1999 [17] Theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng, thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu tính trên giá trị tăng thêm cuả của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào.
ngân sách Nhà nước theo mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ. Trần Trọng Khoái (2013) định nghĩa: “Thuế Giá trị gia tăng (GTGT) còn được gọi là VAT (Value Added Tax) là loại thuế chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm qua mỗi khâu của quá trình sản xuất, kinh doanh và tổng số thuế thu được ở các khâu chính bằng số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng. cuối cùng” [13, tr. Nhu vậy, thuế giá trị gia tăng là phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Thuế GTGT do người tiêu dùng cuối chịu, cơ sở sản xuất kinh doanh, nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ là người nộp thuế vào ngân sách Nhà nước thay cho người tiêu dùng thông qua việc cộng thuế vào giá bán mà người tiêu dùng phải thanh toán khi mua hàng hóa, dịch vụ. Bản chất của thuế giá trị gia tăng ~ Thuế GTGT là thuế gián thu, được tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình luân chuyền từ sản xuất, lưu thông, đến tiêu dùng. - Thuế GTGT tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ nên đối tượng nộp thuế (ĐTNT) phải là các cơ sở sản xuất, kinh doanh đã bỏ thêm chỉ phí vào làm cho giá cả của hàng hoá, dịch vụ tăng lên. Các cơ sở sản xuất, kinh doanh đóng vai trò là người thu hộ thuế cho Nhà nước.
Vì vậy, thuế GTGT là một loại thuế gián thu, điều tiết vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ một cách gián tiếp thông qua giá cả. - Thuế GTGT có tính xã hội hoá cao, đòi hỏi người tiêu dùng phải có ý thức trong việc chấp hành nghĩa vụ nộp thuế và góp phần kiểm soát chống thất thu cho ngân sách Nhà nước. Đặc biệt là đối với NNT trong việc tự kê khai, tính thuế và nộp thuế GTGT như ở nước ta hiện nay đòi hỏi người dân phải có tỉnh thần tự giác cao và ý thức chấp hành nghĩa vụ nộp thuế tốt. Đặc điểm của thuế GTGT Thứ nhất, thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn không trùng lặp Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn.
Tổng số 10 thuế thu được của tắt cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Giá trị gia tăng là phần giá trị mới tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Đại lượng này có thể được xác định bằng phương pháp cộng hoặc phương pháp trừ. Theo phương pháp cộng, GTGT là trị giá các yếu tố cấu thành giá trị tăng thêm bao gồm tiền công và lợi nhuận.
Theo phương pháp trừ, GTGT chính là khoản chênh lệch giữa tổng giá trị sản xuất và tiêu thụ trừ đi tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào tương ứng. Tổng giá trị gia tăng ở tất cả các giai đoạn luân chuyển đúng bằng giá bán sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng. Do vậy, việc thu thuế trên GTGT ở từng giai đoạn tương đương với số h trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Đặc này thể hiện tính ưu việt tránh việc đánh thuế trùng lắp giữa các khâu, đảm bảo cho việc tính đúng và tính đủ, tránh thất thu thuế, thuận lợi cho công tác quản lý.
Tuy nhiên nó cũng có nhược điểm là gây khó khăn cho công tác quản lý trong việc quản lý hóa đơn, chứng từ. Thứ hai, thuế GTGT có tính trung lập kinh tế Thuế GTGT không phải là yếu tố chỉ phí mà đơn thuần là yếu tố cộng thêm ngoài giá bán của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ.