Chương I Thông tư này là cá nhân cư trú bao gồm cá nhân, nhóm cá nhân và hộ gia đình có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc tắt cả các lĩnh vực, ngành nghè sản xuất,kinh doanh theo quy định của pháp luật (sau đây gọi là cá nhân kinh doanh) " Như vậy, hộ kinh doanh cá thể theo pháp luật hiện hành có hình thức là: một cá nhân; một nhóm người (gồm các công dân Việt Nam, đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ); một hộ gia đình. Đây là đối tượng phải nộp thuế môn bài, thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân cho các hoạt động sản xuất kinh doanh. Đặc điểm của hộ kinh doanh cá thể ~ “Đặc điểm về sở hữu: Hộ kinh doanh cá thể mang tính chất của một hộ. gia đình, hoạt động dựa vào vốn, tài sản và sức lao động của những người trong gia đình.
Hộ kinh doanh cá thê hoạt động sản xuất kinh doanh dựa vào vốn và sức lao động của bản thân mình là chính. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hộ kinh doanh cá thể phát triển rất nhanh trong cả nướ hoạt động trong mọi ngành sản xuất, giao thông vận tải, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ. Dựa trên sở hữu tư nhân vẻ tư liệu sản xuất, người chủ kinh doanh tự quyết định từ quá trình sản xuất kinh doanh đến phân phi tiêu thụ sản phẩm” - “Về quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ; trình độ chuyên môn, quản lý chủ yếu từ kinh nghiệm. Hoạt động của hộ kinh doanh mang tính tự chủ cao, tự tìm kiếm nguôn lực, vốn, sức lao động.
Thành phân kinh tế này rắt nhạy bén trong kinh doanh, đễ dàng chuyển đối ngành nghề kinh doanh cho phù hợp với yêu câu của thị trường và nên kinh té" [2, tr.19] - “SỐ lượng hộ cá thể lớn, đa dạng về đối tượng, hình thức, ngành nghề, địa bàn và thời gian hoạt động.21] ình độ kinh doanh, ý thức tuân thủ pháp luật nói chung và pháp luật về thuế còn chưa cao do hau hết các hộ kinh doanh ở quy mô nhỏ, phát triển kinh tế gia đình nhằm tăng thu nhập, kinh doanh theo kinh nghiệm, không thực hiện chế độ sổ sách kế toán, không thực hiện khai và nộp thuế theo thu nhập (doanh thu trừ chỉ phí) mà chủ yếu nộp thuế theo phương pháp khoán (nộp theo tỷ lệ án định trên doanh thu). Tầm quan trọng của hộ kinh doanh cá thể ~ “Hộ kinh doanh ở các địa phương, tạo ra các chủng loại sản phẩm hàng hoá dịch vụ đa dạng, phong phú. Hộ kinh doanh cá thể có một tiềm năng to lớn về trí tuệ, sáng kiến, được phân bó rộng rãi ở mọi nơi, mọi lúc. Nhờ đó hộ kinh doanh có thể phát huy được sáng kiến của mình vào việc sản xuất và tìm tòi ra những hình thức kinh doanh phù hợp với điều kiện địa bàn sinh sống, 21 kinh doanh.” ~ “Hộ kinh doanh cá thể không những giải quyết việc làm, tăng thu nhập mà còn là mạng lưới rộng lớn, phát triển về những vùng xa, vùng khó khăn mà các lĩnh vực kinh doanh khác không đáp ứng được.
Đây là kênh phân phối và lưu thông hàng hoá quan trọng, giúp cân đối thương mại và phát triển kinh tế địa phương” ~ “Hộ kinh doanh cá thể thường kinh doanh dựa trên bí quyết sản xuất truyền thống được tích luỹ từ nhiều thế hệ. Điều này cho phép phát huy những ngành nghề truyền thống để tạo ra những sản phẩm dịch vụ phục vụ cho nhu cầu và xuất khẩu. Nó có ý nghĩa quan trọng trong điều kiện đất nước còn thiếu vốn như hiện nay. Trong khi nguồn vốn Nhà nước và tập thể còn hạn hẹp thì nguồn vốn tiềm năng trong dân lại rất lớn.
Do đó nếu có chính sách kinh tế hợp lý sẽ mở đường cho các hộ kinh doanh cá thể có khả năng bỏ vốn vào sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng để tích luỹ, mở rộng tái sản xuất góp phần thúc đây phát triển kinh tế nhanh chóng” 1. Khái niệm quản lý thu thuế “Quản lý thu thuế là quản lý hành chính nhà nước vẻ thuế, bao gém việc tổ chức, quản lý, điều hành quá trình thu nộp thuế, hay nói cách khác đó hoạt động chấp hành của cơ quan nhà nước có thẩm quyên mà cụ thể là hệ thống cơ quan quản lý thuế từ trung ương đến địa phương trong quản lý thu, nộp thuế cho nhà nước từ các tổ chức, cá nhân là đối tượng nộp thuế đã được xác định trong các Luật thuế" [3, tr.49] “Quản lý thu thuế có vai trò đảm bảo cho chính sách thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong thực tiễn đời sống kinh tế xã hội. Chính sách thuế thường, được thiết kế nhằm thực hiện những chức năng cao cả của thuế như điều tiết kinh tế vĩ mô phục vụ mục tiêu tăng trưởng của đất nước hay phân phối thu nhập nhằm đảm bảo sự công bằng giữa các tầng lớp dân cư trông xã hội. Tuy nhiên, các mục tiêu này chỉ trở thành hiện thực nếu quản lý thuế thực hiện 22 điều hành, giám sát tốt để ai là NNT thì phải nộp thuế đúng, nộp thuế đủ và nộp thuế đúng hạn số thuế phải nộp vào NSNN.
Vì vậy có thể khẳng định QLT có vai trò Quyết định cho sự thành công của từng chính sách thuế 1. Vai trò của quản lý thu thuế đối hộ cá thể “Thực hiện tốt công tác quản lý thu thuế có vai trò rất quan trong trong việc đảm bảo nguôn thu cho Ngân sách nhà nước; tạo điêu kiện thuận lợi cho. người nộp thuế nộp đúng, đủ, kip thoi ti n thuê. Chính sách thuê là công cụ thực sự có hiệu lực quản lý và điều tiết vĩ mô nên kinh tế.
Thuế hoạt động có hiệu quả là chủ trương giải phóng mọi tiềm năng sản xuất kinh doanh, đảm bao sự cạnh tranh giữa các thành phân kinh tế, thúc đẩy tổ chức sắp xếp lại SXKD nâng cao chất lượng kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu hoạt động của các chủ thể kinh tế là lợi nhuận, vì vậy các chủ thể kinh tế thường dùng nhiều thủ đoạn, tiểu xảo để trốn thuế hoặc “lách luật”. Ưì vậy đòi hỏi ngành thuế phải tăng cường quản lý thu thuế để phát huy những yếu tố tích cực và hạn chế, ngăn ngừa biểu hiện tiêu cực trong việc chấp hành pháp luật thuế” [2, tr.38] “Đối với hộ kinh doanh cá thể thì hầu hết đều có quy mô nhỏ, sản xuất kinh doanh nhiều mặt hàng, hay thay đổi địa điểm và ngành nghề kinh doanh. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ còn mang tính tự phát có thể bỏ qua nhiều quy định để thu về lợi nhuận.
Trình độ am hiểu và chấp hành ý thức pháp luật của người dân không cao nên đã làm cho công tác quản lý thu thuế gặp nhiều khó khăn. Hơn nữa, hộ kinh doanh cá thể lại hoạt động trong phạm vi dàn trải, địa bàn rất rộng gây không ít khó khăn trong công tác quản lý. Ngoài ra, đa số các hộ kinh doanh vẫn chưa thực hiện tốt chế độ số sách kế toán, hoá đơn chứng từ đề làm cơ sở xác định số thuế phải nộp. Nhiều hộ kinh doanh chưa tự nguyện, tự giác đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và nhiều hộ chây ỳ không nộp thuế, nợ đọng thuế,.
Nhiều trường hợp hộ kinh doanh cá thể cá thể khai tạm nghỉ kinh doanh nhưng thực tế vẫn hoạt động bình thường 23 mà cán bộ thuế không phát hiện ra hoặc không phát hiện được nên số lượng xử lý vẫn còn ít so với thực tế cần xử lý." *Xét trên khía cạnh chủ quan, trong thực trạng công tác quản lý thuế với hộ kinh doanh cá thể, khi cán bộ thuế không đủ năng lực hoặc không đủ lực lượng hoặc nghiêm trọng hơn là lợi dụng sự lỏng lẻo trong quy định quản lý thuế mà cố tình cấu kết với các đối tượng nộp thuế làm thất thu NSNN. Như vậy, việc tăng cường công tác quản lý thu thué đối với hộ kinh doanh cá thể là công tác cần thiết và hết sức quan trọng, không chỉ phục vụ riêng cho. công tác thu ngân sách mà còn thực hiện kiểm tra, kiểm soát đảm bảo công. bằng xã hội nói chung.
Chính vì vậy, từng cấp cơ sở quản lý thuế cần có những biện pháp quản lý riêng cho phù hợp với thực trạng thu thuế ở khu vực đó, góp phần chóng thất thu thuế, ngăn chặn sự thất thu NSNN” 1. NOI DUNG QUAN LY THU THUE DOI VỚI HỘ CÁ THẺ 1. Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế Nhà nước quản lý xã hội bằng hệ thống pháp luật. Pháp luật về thuế là một bộ phận của hệ thống pháp luật.
Hiện nay, tình trạng trốn thuế, sai phạm về thuế vẫn còn phô biến. Bên cạnh đó, chính sách thuế thường xuyên thay đổi và rất nhiều NNT chưa có điều kiện nắm bắt kịp thời các luật thuế. Chính vì vậy, công tác tuyên truyền và hỗ trợ NNT sẽ tăng cường tính thực thi của pháp luật Thuế nói riêng và pháp luật của Nhà nước nói chung. Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế là khâu đầu của công tác quản lý thuế theo chức năng.
Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế có tác dụng không, chỉ đối với người nộp thuế, nhằm ngăn ngừa giảm dần các sai phạm, việc làm này còn thuận lợi ngay cả cho cơ quan thuế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình. Tuyên truyền hỗ trợ cho người nộp thuế sẽ tạo ra mối quan hệ thân thiện giữa cơ quan thuế và người nộp thuế. Người nộp thuế sẽ nhận được những thông tin, kiến thức về thuế, tiết kiệm thời gian và tiền của cho quá trình thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Đối với cơ quan thuế sẽ làm tăng số thu, 24 giảm chỉ phí, tăng mức độ chấp hành và tăng độ tin cậy của NNT.
Nếu làm tốt công tác tuyên truyền hỗ trợ thì số thuế do NNT chủ động thực hiện nộp vào. ngân sách tăng lên mà chưa cần phải tổ chức thanh tra, kiểm tra. Để làm tốt công tác hỗ trợ người nộp thuế, cơ quan thuế phải thật sự coi người nộp thuế là các khách hàng. Theo Quyết định 601/QĐ-TCT về lệc ban hành Quy trình tuyên truyền, hỗ trợ NNT ngày 11/05/2012: “Mục đích của quy trình: thống nhất, chuẩn hóa về nguyên tắc, nội dụng, trình tự thực hiện công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT dé nang cao chat lượng, hiệu quả công tác của cơ quan thuế và hướng dẫn, giúp đờ NNT thực hiện quyền và nghĩa vụ về thuế GTGT.