CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TAC QUAN LY NHA NUOC VE THUY SAN 1. NHỮNG VẤN ĐÈ CHUNG Ve THUY SAN VA QUAN LY NHA NUGOC VE NGANH THUY SAN 1. Một số khái niệm cơ bản về thủy sản. Thúy sản là một ngành lấy mặt nước làm tư liệu sản xuất chính, đối tượng lao động là những sinh vật thủy sinh; kết quả sản xuất của ngành là những sản phẩm sinh vật, những kết quả sinh học nhằm phục vụ cho các nhu.
cầu củađời sống xã hội [20]. Thủy sản là ngành kinh tế cấp 2 thuộc ngành “Nông nghiệp, Lâm. nghiệp và Thủy sản” trong hệ thống phân ngành kinh tế Việt Nam. thủy sản bao gồm: Khai thác thủy sản (Khai thác thủy sản biển và khai thác thủy sản nội địa) và Nuôi trồng thủy sản (Nuôi trồng thủy sản biển và nuôi trồng thủy sản nội địa) [21].
Khai thắc thuỷ sản là việc khai thác nguồn lợi thuỷ sản trên biển, sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác. Hoạt động khai thác thủy sản trên biển Việt Nam được chia ra 3 vùng khai thác: Vùng biển ven bờ được giới hạn bởi mép nước biển tại bờ biển và tuyến bờ, Vùng lộng là vùng biển được giới hạn bởi tuyến bờ và tuyến lộng, Vùng khơi là vùng biển được giới hạn bởi tuyến lộng và ranh giới phía ngoài của vùng đặc quyền kinh tế của. vùng biển Việt Nam. Hoạt động khai thác thủy sản phải đảm bảo không làm.
cạn kiệt nguồn lợi thủy sản, phải tuân theo các quy định về mùa vụ khai thác, thời hạn khai thác, sản lượng cho phép khai thác hàng năm. Việc khai thác thủy sản sử dụng các loại ngư cự, phương tiện kích cỡ phù hợp với từng loại thủy sản được cho phép [16] 10 "Nuôi trông thủy sản là việc nuôi trồng các loại thủy sản trên các vùng nước tự nhiên trong đất liền hoặc mặt nước biển. Đắt đẻ nuôi trồng thuỷ sản là đất có mặt nước nội địa, bao gồm ao, im, pha, sông, ngòi, kênh, rạch; đất có mặt nước ven biển; đất bãi bồi ven sông, ven biển; bãi cát, cồn cát ven biển; đất sử dụng cho kinh tế trang trại, đất phi nông nghiệp có mặt nước được giao, cho thuê để nuôi trồng thuỷ sản. Mặt nước biển để nuôi trồng thuỷ sản là vùng nước biển được quy hoạch để nuôi trồng thuỷ sản [16] Nguén loi thus sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên, có giá trị kinh tế, khoa học để phát triển nghề khai thác thuỷ sản, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thuỷ sản [16] “Ngư trường là vùng biển có nguồn lợi thuỷ sản tập trung được xác định để tàu cá đến khai thác [16].
Thủy vực là các loại mặt nước như: sông hồ, ao, suối, mặt nước ruộng, cửa sông, biển. được sử dụng vào nuôi trồng và đánh bắt thủy sản [20] 1. Khái niệm quản lý nhà nước về thủy sẵn Quản lý là sự tác động có định hướng và tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các phương thức nhất định đẻ đạt tới những mục tiêu nhất định [11]. Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước tiên hành đối với tấ cả mọi cá nhân và tô chức trong xã hội, trên tắt cả các mặt hàng của đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà.
cường chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ chung của cả cộng đồng, duy tri én định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo một định hướng thống nhất của Nhà nước [1 1]. Quản lý nhà nước đối với nền kinh tế quắc dân (gọi vẫn tắt là quản by nhà nước vẻ kinh tế) là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực. " kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu. phát triển kinh tế đất nước đã đặt ra, trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao.
Quản lý nhà nước về thủy sán là sự tác động có tô chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên các hoạt động trong lĩnh vực thủy sản nhằm sử dụng. hiệu quả nhất có thể các nguồn lực trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có để đạt được mục tiêu phát triển về thủy sản trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế [14], Các yếu tố cấu thành của QLNN bao gồm: ~ Chủ thể quản lý: Chủ thê QLNN về thủy sản ở Việt Nam là Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có: các cơ chế, nguyên tắc và chế độ hoạt động của chính quyền; nguồn nhân lực của bộ máy công quyền bao. gồm viên chức, công chức, những người thừa hành công vụ, hoặc phục vụ cho các hoạt động khác nhau của các cơ quan trong bộ máy công quyền; hệ thống. tổ chức bộ máy chính quyền nhà nước từ Trung ương đến địa phương bao.
gồm các cơ quan hoạch định chủ trương, chính sách và các cơ quan thực thi I20 52 Luật Thủy Sản 2003 quy định rõ trách nhiệm QLNN (1) Chính phủ 'QLNN về thuỷ sản trong phạm vi cả nước. (2) Bộ Thủy sản (nay là Bộ NN&PTNT) là cơ quan đầu mối giúp 'Chính phủ thực hiện QLNN về thủy sản. (3) Các Bộ, cơ quan ngang Bộ phối hợp với Bộ NN&PTNT thực hiện QLNN về thủy sản. (4) UBND các cắp chịu trách nhiệm QL.NN vẻ thuỷ sản tại địa phương.
~ Đối tượng quản lý: Trong lĩnh vực thủy sản, đối tượng QLNN là: (1) Các tổ chức kinh tế hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận: doanh nghiệp. 12 nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, các công ty, hộ kinh doanh. (2) Các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động không vì lợi nhuân như: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, các tổ chức từ thiện (3) Các tổ chức Phi chính phủ hoạt động vì sự phát triển cộng đồng. ~ Mục tiêu quản ý: Mục tiêu QLNN về thủy sản là phải phát huy được hết thế mạnh của thủy sản tại địa phương: sử dụng sao cho có hiệu quả cao nhất diện tích mặt nước có sẵn trong quá trình NTTS cho hai mục đích: sản xuất kinh doanh (SXKD) hoặc mục đích bảo tồn tự nhiên [20].
Đặc điểm của ngành thủy sản ảnh hướng đến công tác quản. lý nhà nước về thủy sản. Đối tượng sản xuất thủy sản là các sinh vật sống trong nước. ~Sinh vật sống trong nước là các loại động thực vật như tôm, cua, cá, rong, rêu,.
sống trong môi trường nước mặt. Môi trường nước mặt bao gồm. 'biển và các mặt nước trong nội địa. ~ Trữ lượng thủy sản trong một ngư trường rất khó xác định do các sinh vật có thể di chuyển từ vùng này sang vùng khác.
Vì vậy, để bảo vệ và khai thác các nguồn lợi thủy sản một cách lâu dã và có hiệu quả, bên cạnh việc cần phân chia ranh giới mặt nước, mặt biển cần phối hợp quản lý các hoạt động. thủy sản giữa các địa phương với nhau. Đặc biệt cần ngăn chặn các phương. pháp khai thác lạc hậu làm nghèo nàn hoặc cạn kiệt nguồn lợi thủy sản.
~ Thủy sản rất nhanh bị ươn thối, hư hỏng nên để đảm bảo chất lượng. sản phẩm thì cần có sự phối hợp chặt chẽ từ khâu khai thác đến chế bién và tiêu thụ sản phẩm; đầu tư cơ sở hạ tằng dịch vụ một cách đồng bộ. Công tác 'QLNN cần kết nối những khâu này lại để thúc đẩy hoạt động thủy sản có thể phát triển theo chiễu sâu, ngày cảng chuyên môn hóa các khâu. Thủy vực là tư liệu sản xuất không thể thay thế ~ Thủy vực là tư liệu sản xuất chính yếu không thể thay thế của ngành.
13 thủy sản, thông thường thủy vực sẽ được sử dụng cho nhiều mục tiêu khác nhau như: tưới tiêu kết hợp nuôi cá, giao thông đường thủy, cung cấp nước. Do vậy, dé bảo vệ và sử dụng thủy vực một cách hiệu quả cằn chú ý những vấn đề: (1) Thực hiện quy hoạch các loại hình thủy vực và xác định hướng sử dụng thủy vực cho thủy sản, (2) Chú trọng việc bảo vệ môi trường nước kể cả nước biển, (3) Sử dụng thủy vực một cách tiết kiệm, cần hạn chế chuyển mục đích sử dụng thủy vực là các ao hồ sang đắt xây dựng cơ. bản © Ngành thủy sản là ngành sản xuất có tính hỗn hợp và tính liên ngành cao Thủy sản là một ngành sản xuất vật chất bao gồm các hoạt động sản xuất có tinh cl tương đối khác nhau nhưng có mối liên kết chặt chẽ với nhau như hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy sản, chế biến thủy sản. Trong quá trình phát triỂn các lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, mức độ chuyên môn hóa các hoạt động sản xuất thủy sản càng ngày cao.
'Việc chuyên môn hóa các hoạt động sản xuất thủy sản phụ thuộc vào nhu cầu. thị trường và nền tảng cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ của từng mỗi hoạt động, điều này tạo nên những ngành chuyên môn hóa hep có tính độc lập một cách tương đối. Mặc dù vậy, bởi vì đặc điểm sản xuất vả tiêu dùng sản phẩm thủy sản mà các hoạt động thủy sản có tính liên kết với nhau và đòi hỏi phải gắn bó trong một thể thống nhất, ở trình độ cao hơn mang tính liên ngành. Như vậy, các hoạt động sản xuất thủy sản vừa có h hỗn hợp vừa có tính liên ngành cao tạo thành đặc điểm của ngành thủy sản “Tính hỗn hợp và tính liên ngành cao của các hoạt động sản xuất có tính chất tương đối khác nhau làm cho ngành thủy sản vừa có tính chất của một ngành sản xuất công nghiệp, vừa có tính chất của sản xuất nông nghiệp”.
Điều này làm cho công tác QLNN ngành thủy sản phải dựa trên tính chất độc. 14 lập của từng hoạt động thủy sản và mối liên hệ chặt chẽ mang tính liên ngành của các hoạt động nay. 44L SXKD thủy sản đòi hái vẫn đầu tư ban đầu lớn và độ rủi ro cao. “Trong hầu hết các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt thủy sản đều yêu cầu.
đầu tư khâu đầu vào lớn: mua trang thiết bị, cải tạo đầm nuôi trồng, đóng tàu thuyền, xăng xe. Nhu cầu vốn đầu tư lớn như trên vượt quá khả năng của từng chủ thể trong nền kinh tế, nhất là các hộ gia đình. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, thiên tai gây ra nhiều thiệt hại về tàu thuyền lớn cho ngư dân, thậm chí là về con người, nhất là ngư dân đánh bắt xa bờ.