Luận văn: Quản lý nhà nước về thủy sản tại huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

Luận văn thạc sĩ phân tích quản lý kinh tế thủy sản tại huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý.

Trường đại học

Trường Đại Học Kinh Tế

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn
119
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý nhà nước về thủy sản tại Bình Sơn

Huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, với đường bờ biển dài 54km và hai cửa biển lớn là Sa Cần và Sa Kỳ, sở hữu tiềm năng to lớn để phát triển kinh tế biển. Ngành thủy sản từ lâu đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp quan trọng vào cơ cấu kinh tế và giải quyết việc làm cho người dân địa phương. Năm 2017, giá trị sản xuất thủy sản đạt 668,6 tỷ đồng, chiếm gần 33% tổng giá trị sản xuất nông lâm thủy sản toàn huyện. Tuy nhiên, sự phát triển này chưa tương xứng với tiềm năng và còn tồn tại nhiều bất cập. Do đó, công tác quản lý nhà nước về thủy sản huyện Bình Sơn đóng vai trò then chốt trong việc định hướng, điều tiết và hỗ trợ ngành phát triển một cách bền vững. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực này là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của các cơ quan nhà nước lên mọi hoạt động liên quan đến khai thác thủy sảnnuôi trồng thủy sản. Mục tiêu là sử dụng hiệu quả nguồn lợi thủy sản, bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao thu nhập cho ngư dân và đảm bảo ngành thủy sản hội nhập thành công vào nền kinh tế quốc tế. Luận văn của tác giả Trần Thị Thu Sương (2019) đã đi sâu phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp chiến lược nhằm hoàn thiện công tác này, tạo cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách tại địa phương.

1.1. Vai trò chiến lược của ngành thủy sản tại huyện Bình Sơn

Ngành thủy sản không chỉ là nguồn sinh kế chính của hàng nghìn hộ ngư dân ven biển Bình Sơn mà còn là động lực thúc đẩy các ngành dịch vụ hậu cần, chế biến và thương mại phát triển. Nghị quyết 09-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” đã khẳng định vai trò trọng yếu của kinh tế biển, trong đó thủy sản là một trụ cột. Tại Bình Sơn, lợi thế về ngư trường rộng lớn và đa dạng các loài hải sản có giá trị kinh tế cao là nền tảng vững chắc. Hoạt động phát triển thủy sản tại đây được chia thành hai lĩnh vực chính: khai thác thủy sản xa bờ và ven bờ, cùng với nuôi trồng thủy sản nước lợ và mặn. Sự phát triển của Khu kinh tế Dung Quất cũng tạo ra những cơ hội và thách thức mới, đòi hỏi công tác quản lý phải linh hoạt và hiệu quả hơn để vừa phát triển kinh tế, vừa bảo vệ môi trường và nguồn lợi thủy sản.

1.2. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thủy sản

Theo luận văn, quản lý nhà nước về thủy sản là sự tác động có định hướng của Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật, chính sách và bộ máy hành chính lên các chủ thể tham gia hoạt động thủy sản. Nội dung quản lý bao gồm năm mảng chính: (1) Tổ chức thực hiện các chính sách, văn bản pháp luật; (2) Quản lý quy hoạch, kế hoạch phát triển; (3) Tổ chức quản lý các hoạt động sản xuất (đào tạo, cấp phép); (4) Tuyên truyền, phổ biến pháp luật; và (5) Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý bao gồm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, năng lực của bộ máy quản lý, nhận thức của người dân và việc ứng dụng khoa học công nghệ. Một khung lý luận vững chắc giúp nhận diện đúng các vấn đề và là cơ sở để xây dựng những giải pháp phù hợp với thực tiễn tại huyện Bình Sơn.

II. Thực trạng quản lý nhà nước về thủy sản huyện Bình Sơn

Giai đoạn 2013-2017, ngành thủy sản huyện Bình Sơn đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, thể hiện qua sự tăng trưởng ổn định về sản lượng và giá trị sản xuất. Sản lượng thủy sản năm 2017 đạt trên 27.000 tấn, cho thấy nỗ lực của chính quyền và người dân. Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước về thủy sản huyện Bình Sơn vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế sâu sắc. Hoạt động nuôi trồng thủy sản còn manh mún, tự phát, thiếu quy hoạch đồng bộ dẫn đến rủi ro dịch bệnh và ô nhiễm môi trường. Trong khi đó, hoạt động khai thác thủy sản vẫn tồn tại các phương pháp lạc hậu, tận diệt, làm suy giảm nghiêm trọng nguồn lợi thủy sản ven bờ. Đặc biệt, tình trạng tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài đã ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín và thị trường xuất khẩu thủy sản Việt Nam, điển hình là cảnh báo “thẻ vàng” từ Ủy ban Châu Âu. Sự thiếu kết nối giữa nhà nước, ngư dân và doanh nghiệp trong chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ cũng là một rào cản lớn. Những tồn tại này đòi hỏi một sự đánh giá toàn diện để tìm ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý.

2.1. Đánh giá tình hình phát triển thủy sản giai đoạn 2013 2017

Theo số liệu từ Niên giám thống kê huyện Bình Sơn, giá trị sản xuất thủy sản tăng trưởng trung bình 3,8%/năm trong giai đoạn 2013-2017. Riêng năm 2017, tốc độ tăng trưởng đạt 10,3%. Sản lượng khai thác thủy sản đạt 26.498 tấn (tăng 5,8% so với 2016). Đáng chú ý, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 705,2 tấn, tăng đột biến 65,3%. Điều này cho thấy sự chuyển dịch tích cực trong cơ cấu sản xuất. Số lượng tàu cá cũng tăng, đặc biệt là tàu có công suất lớn phục vụ đánh bắt xa bờ. Tuy nhiên, sự tăng trưởng này chủ yếu theo chiều rộng, chưa bền vững và chất lượng sản phẩm chưa cao. Việc phân tích số liệu cho thấy tiềm năng phát triển thủy sản còn rất lớn nếu các hạn chế trong quản lý được khắc phục.

2.2. Những hạn chế trong công tác quản lý khai thác thủy sản

Công tác quản lý hoạt động khai thác thủy sản tại Bình Sơn đối mặt nhiều thách thức. Thứ nhất, tình trạng khai thác bằng các phương pháp hủy diệt như xung điện, chất nổ vẫn còn xảy ra ở một số khu vực, gây cạn kiệt nguồn lợi thủy sản. Thứ hai, hệ thống cơ sở hạ tầng nghề cá như cảng cá, bến cá, khu neo đậu còn thô sơ, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển. Thứ ba, việc kiểm tra, giám sát hoạt động của các tàu cá trên biển còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là việc tuân thủ các quy định về vùng khai thác và ghi nhật ký khai thác. Vấn đề khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) là nguyên nhân chính dẫn đến “thẻ vàng” của EC, là một bài toán cấp bách cần lời giải từ công tác quản lý nhà nước.

2.3. Thách thức đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản tự phát

Lĩnh vực nuôi trồng thủy sản ở Bình Sơn phát triển mạnh nhưng phần lớn là tự phát và nhỏ lẻ. Diện tích nuôi trồng không tuân thủ quy hoạch phát triển thủy sản, nhiều vùng nuôi hình thành ngay trên đất nông nghiệp hoặc vùng cửa sông, gây khó khăn cho việc quản lý môi trường và kiểm soát dịch bệnh. Người dân chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, ít áp dụng khoa học kỹ thuật, dẫn đến năng suất thấp và rủi ro cao. Việc quản lý con giống, thức ăn, và hóa chất sử dụng trong nuôi trồng còn lỏng lẻo. Hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng chưa được đầu tư đồng bộ. Những thách thức này đòi hỏi chính quyền phải có những chính sách thủy sản mạnh mẽ hơn về quy hoạch vùng nuôi tập trung và hỗ trợ kỹ thuật cho người dân.

III. Cách hoàn thiện chính sách và quy hoạch thủy sản Bình Sơn

Để giải quyết các vấn đề tồn tại, việc hoàn thiện khung khổ pháp lý và quy hoạch là bước đi nền tảng trong nỗ lực nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về thủy sản huyện Bình Sơn. Một hệ thống chính sách rõ ràng và một bản quy hoạch khoa học sẽ là kim chỉ nam cho mọi hoạt động phát triển thủy sản, giúp phân bổ nguồn lực hợp lý, thu hút đầu tư và hạn chế các hoạt động tự phát, thiếu kiểm soát. Công tác này cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, từ việc xây dựng văn bản hướng dẫn chi tiết đến việc giám sát thực thi trên thực địa. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi, minh bạch, khuyến khích các tổ chức và cá nhân đầu tư vào nuôi trồng thủy sảnkhai thác thủy sản một cách bền vững. Trọng tâm của các giải pháp này là phải gắn liền quy hoạch phát triển thủy sản với quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của huyện và của tỉnh, đảm bảo tính đồng bộ và tầm nhìn dài hạn.

3.1. Tối ưu hóa việc thực thi các văn bản pháp luật về thủy sản

Việc tổ chức thực hiện chính sách thủy sản và các văn bản pháp luật cần được cải thiện. UBND huyện cần chủ động hơn trong việc xây dựng các văn bản hướng dẫn cụ thể, phù hợp với điều kiện địa phương, thay vì chỉ áp dụng một cách máy móc các quy định từ cấp trên. Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến từng ngư dân, hộ nuôi trồng thông qua nhiều hình thức đa dạng như hội thảo, tập huấn, tờ rơi, thông tin trên đài truyền thanh xã. Theo thống kê, huyện đã ban hành nhiều văn bản về thủy sản, nhưng hiệu quả thực thi chưa cao. Việc thành lập các tổ công tác chuyên trách để theo dõi, đôn đốc và hỗ trợ người dân thực hiện chính sách là một giải pháp cần thiết để đưa pháp luật vào cuộc sống.

3.2. Nâng cao hiệu quả quản lý quy hoạch phát triển ngành thủy sản

Công tác quản lý quy hoạch phát triển thủy sản cần được thực hiện nghiêm túc và khoa học. Quy hoạch phải xác định rõ các vùng được phép khai thác, vùng cấm khai thác có thời hạn, vùng dành cho nuôi trồng thủy sản tập trung, và vùng bảo tồn nguồn lợi thủy sản. Việc xây dựng và công khai quy hoạch giúp người dân và doanh nghiệp có định hướng đầu tư rõ ràng, tránh tình trạng phát triển tự phát. Quá trình lập quy hoạch cần có sự tham gia của cộng đồng ngư dân và các chuyên gia để đảm bảo tính thực tiễn và khả thi. Sau khi được phê duyệt, việc giám sát thực hiện quy hoạch phải được tăng cường, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, đặc biệt là các hành vi lấn chiếm mặt nước, xây dựng công trình trái phép trong vùng quy hoạch.

IV. 5 Giải pháp đột phá quản lý hoạt động thủy sản Bình Sơn

Bên cạnh việc hoàn thiện chính sách và quy hoạch, các giải pháp mang tính đột phá trong quản lý hoạt động sản xuất trực tiếp là yếu tố quyết định sự thành công của công tác quản lý nhà nước về thủy sản huyện Bình Sơn. Các giải pháp này tập trung vào việc nâng cao năng lực của các chủ thể tham gia, từ cán bộ quản lý đến người lao động, đồng thời hiện đại hóa công tác quản lý thông qua cải cách hành chính và tăng cường giám sát. Việc áp dụng đồng bộ các giải pháp này sẽ giúp chuyển đổi ngành thủy sản từ mô hình sản xuất nhỏ lẻ, truyền thống sang một ngành kinh tế có tổ chức, áp dụng công nghệ và tuân thủ pháp luật. Trọng tâm là tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa các khâu trong chuỗi giá trị, từ khai thác thủy sản, nuôi trồng thủy sản đến chế biến và tiêu thụ, nhằm nâng cao giá trị gia tăng và đảm bảo phát triển thủy sản bền vững. Đây là những bước đi cụ thể để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược đã đề ra.

4.1. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực thủy sản chất lượng cao

Nguồn nhân lực là yếu tố cốt lõi. Cần tổ chức các lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về thủy sản. Đồng thời, mở các lớp đào tạo nghề cho ngư dân và người nuôi trồng về kỹ thuật khai thác tiên tiến, quy trình nuôi an toàn sinh học, kỹ năng vận hành tàu cá hiện đại và các quy định pháp luật. Theo bảng 2.11 trong luận văn, danh sách ngành nghề đào tạo cần được mở rộng. Công tác khuyến ngư cần được đẩy mạnh, nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả, giúp người dân tiếp cận tiến bộ khoa học kỹ thuật, từ đó nâng cao năng suất và thu nhập.

4.2. Cải cách thủ tục cấp phép đăng ký tàu cá và trang trại

Thủ tục hành chính rườm rà là một trong những rào cản đối với người dân và doanh nghiệp. Cần đơn giản hóa, công khai và minh bạch quy trình cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép khai thác thủy sản, giấy chứng nhận đăng ký tàu cá và giấy chứng nhận kinh tế trang trại. Việc áp dụng công nghệ thông tin, xây dựng hệ thống một cửa liên thông có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tham gia sản xuất hợp pháp. Quản lý chặt chẽ việc cấp phép sẽ góp phần kiểm soát cường lực khai thác, phù hợp với trữ lượng nguồn lợi thủy sản cho phép.

4.3. Tăng cường thanh tra kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật

Công tác thanh tra, kiểm tra phải được thực hiện thường xuyên và quyết liệt. Cần thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành để giám sát hoạt động khai thác thủy sản trên biển và các cơ sở nuôi trồng thủy sản trên bờ. Nội dung kiểm tra tập trung vào việc sử dụng ngư cụ bị cấm, khai thác sai vùng, vi phạm quy định về an toàn tàu cá, và các điều kiện vệ sinh trong nuôi trồng. Phải xử lý nghiêm minh, đủ sức răn đe đối với mọi hành vi vi phạm pháp luật về thủy sản. Đồng thời, cần giải quyết kịp thời, dứt điểm các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp phát sinh, đảm bảo môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh và công bằng.

V. Bài học kinh nghiệm quản lý thủy sản từ các địa phương

Nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm từ các địa phương khác là cách tiếp cận thông minh để hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về thủy sản huyện Bình Sơn. Nhiều địa phương trong cả nước đã triển khai thành công các mô hình quản lý tiên tiến, mang lại hiệu quả kinh tế cao và đảm bảo tính bền vững về môi trường. Các mô hình này cung cấp những bài học thực tiễn quý báu về cách thức tổ chức sản xuất, huy động sự tham gia của cộng đồng, và áp dụng khoa học công nghệ. Việc phân tích các yếu tố thành công cũng như những khó khăn trong quá trình triển khai tại các địa phương bạn sẽ giúp Bình Sơn lựa chọn được mô hình phù hợp nhất với điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của mình. Từ kinh nghiệm của huyện Phú Lộc (Thừa Thiên Huế) về đồng quản lý đến huyện Tuy Phước (Bình Định) về nuôi trồng an toàn sinh học, tất cả đều là những gợi ý giá trị cho việc xây dựng một chiến lược phát triển thủy sản hiệu quả và bền vững cho Bình Sơn.

5.1. Mô hình đồng quản lý hiệu quả tại Phú Lộc Thừa Thiên Huế

Huyện Phú Lộc đã áp dụng thành công mô hình "đồng quản lý thủy sản", trong đó quyền quản lý và khai thác nguồn lợi thủy sản ven bờ được trao một phần cho các tổ chức cộng đồng của ngư dân. Mô hình này phát huy được trí tuệ và sự tham gia tích cực của người dân, những người hiểu rõ nhất về hệ sinh thái địa phương. Kết quả là các hoạt động khai thác mang tính hủy diệt đã giảm mạnh, ý thức bảo vệ nguồn lợi của người dân được nâng cao, thu nhập ổn định hơn và giảm gánh nặng chi phí quản lý cho nhà nước. Đây là một bài học quan trọng về việc trao quyền và xã hội hóa công tác quản lý, hoàn toàn có thể áp dụng tại các xã ven biển của huyện Bình Sơn.

5.2. Bí quyết nuôi trồng an toàn sinh học ở Tuy Phước Bình Định

Tại huyện Tuy Phước, mô hình nuôi trồng thủy sản an toàn sinh học theo dự án CRSD đã giải quyết được vấn nạn dịch bệnh và ô nhiễm. Thay vì nuôi độc canh, người dân thực hiện mô hình nuôi tôm xen cua, cá. Giải pháp này không chỉ giúp tận dụng tối đa chuỗi thức ăn tự nhiên, giảm chi phí đầu tư mà còn giúp cân bằng hệ sinh thái ao nuôi, hạn chế dịch bệnh. Việc đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng, kênh mương cấp thoát nước riêng biệt cũng là yếu tố then chốt. Bài học rút ra cho Bình Sơn là cần chú trọng quy hoạch phát triển thủy sản theo hướng tập trung, áp dụng các mô hình nuôi trồng bền vững và đầu tư vào hạ tầng để kiểm soát chất lượng môi trường.

VI. Hướng đi tương lai cho quản lý thủy sản tại huyện Bình Sơn

Trên cơ sở phân tích thực trạng và các bài học kinh nghiệm, hướng đi tương lai cho công tác quản lý nhà nước về thủy sản huyện Bình Sơn cần tập trung vào mục tiêu phát triển bền vững. Điều này đòi hỏi một tầm nhìn dài hạn và sự quyết tâm chính trị mạnh mẽ. Mục tiêu đến năm 2025 là chuyển đổi thành công cơ cấu ngành thủy sản theo hướng giảm khai thác ven bờ, tăng cường khai thác xa bờ có trách nhiệm và phát triển nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, thân thiện với môi trường. Để làm được điều này, cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của người dân và sự tham gia tích cực của doanh nghiệp. Các kiến nghị đề xuất trong luận văn cần được xem xét và cụ thể hóa thành các chương trình, kế hoạch hành động chi tiết. Tương lai của ngành phát triển thủy sản Bình Sơn phụ thuộc vào những quyết sách và hành động ngay từ hôm nay, nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng biển, nâng cao đời sống ngư dân và góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

6.1. Dự báo xu hướng và mục tiêu phát triển thủy sản đến 2025

Dự báo cho thấy, xu hướng tiêu dùng thủy sản sẽ ngày càng đòi hỏi cao hơn về chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Do đó, mục tiêu phát triển thủy sản của Bình Sơn đến năm 2025 cần tập trung vào việc xây dựng các chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực, áp dụng các tiêu chuẩn như VietGAP. Cần đặt ra các chỉ tiêu cụ thể về việc giảm số lượng tàu cá công suất nhỏ, tăng tỷ lệ tàu cá khai thác xa bờ được giám sát hành trình, mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản theo quy hoạch và tăng giá trị xuất khẩu. Việc áp dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ số, vào quản lý và sản xuất sẽ là xu hướng tất yếu.

6.2. Kiến nghị các cấp để phát triển ngành thủy sản bền vững

Để thực hiện các mục tiêu trên, luận văn đề xuất một số kiến nghị cụ thể. Đối với Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Ngãi, cần sớm hoàn thiện và ban hành quy hoạch tổng thể phát triển ngành. Đối với UBND tỉnh, cần có chính sách thủy sản ưu đãi về vốn, đất đai để thu hút đầu tư vào lĩnh vực chế biến sâu và hạ tầng nghề cá. Đối với Quốc hội và Chính phủ, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về thủy sản, đặc biệt là các quy định liên quan đến chống khai thác IUU và các chính sách hỗ trợ ngư dân vươn khơi, bám biển. Sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp chính quyền là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển thủy sản bền vững tại Bình Sơn.

27/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý nhà nước về thủy sản trên địa bàn huyện bình sơn tỉnh quảng ngãi

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TAC QUAN LY NHA NUOC VE THUY SAN 1. NHỮNG VẤN ĐÈ CHUNG Ve THUY SAN VA QUAN LY NHA NUGOC VE NGANH THUY SAN 1. Một số khái niệm cơ bản về thủy sản. Thúy sản là một ngành lấy mặt nước làm tư liệu sản xuất chính, đối tượng lao động là những sinh vật thủy sinh; kết quả sản xuất của ngành là những sản phẩm sinh vật, những kết quả sinh học nhằm phục vụ cho các nhu.

cầu củađời sống xã hội [20]. Thủy sản là ngành kinh tế cấp 2 thuộc ngành “Nông nghiệp, Lâm. nghiệp và Thủy sản” trong hệ thống phân ngành kinh tế Việt Nam. thủy sản bao gồm: Khai thác thủy sản (Khai thác thủy sản biển và khai thác thủy sản nội địa) và Nuôi trồng thủy sản (Nuôi trồng thủy sản biển và nuôi trồng thủy sản nội địa) [21].

Khai thắc thuỷ sản là việc khai thác nguồn lợi thuỷ sản trên biển, sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác. Hoạt động khai thác thủy sản trên biển Việt Nam được chia ra 3 vùng khai thác: Vùng biển ven bờ được giới hạn bởi mép nước biển tại bờ biển và tuyến bờ, Vùng lộng là vùng biển được giới hạn bởi tuyến bờ và tuyến lộng, Vùng khơi là vùng biển được giới hạn bởi tuyến lộng và ranh giới phía ngoài của vùng đặc quyền kinh tế của. vùng biển Việt Nam. Hoạt động khai thác thủy sản phải đảm bảo không làm.

cạn kiệt nguồn lợi thủy sản, phải tuân theo các quy định về mùa vụ khai thác, thời hạn khai thác, sản lượng cho phép khai thác hàng năm. Việc khai thác thủy sản sử dụng các loại ngư cự, phương tiện kích cỡ phù hợp với từng loại thủy sản được cho phép [16] 10 "Nuôi trông thủy sản là việc nuôi trồng các loại thủy sản trên các vùng nước tự nhiên trong đất liền hoặc mặt nước biển. Đắt đẻ nuôi trồng thuỷ sản là đất có mặt nước nội địa, bao gồm ao, im, pha, sông, ngòi, kênh, rạch; đất có mặt nước ven biển; đất bãi bồi ven sông, ven biển; bãi cát, cồn cát ven biển; đất sử dụng cho kinh tế trang trại, đất phi nông nghiệp có mặt nước được giao, cho thuê để nuôi trồng thuỷ sản. Mặt nước biển để nuôi trồng thuỷ sản là vùng nước biển được quy hoạch để nuôi trồng thuỷ sản [16] Nguén loi thus sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên, có giá trị kinh tế, khoa học để phát triển nghề khai thác thuỷ sản, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thuỷ sản [16] “Ngư trường là vùng biển có nguồn lợi thuỷ sản tập trung được xác định để tàu cá đến khai thác [16].

Thủy vực là các loại mặt nước như: sông hồ, ao, suối, mặt nước ruộng, cửa sông, biển. được sử dụng vào nuôi trồng và đánh bắt thủy sản [20] 1. Khái niệm quản lý nhà nước về thủy sẵn Quản lý là sự tác động có định hướng và tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các phương thức nhất định đẻ đạt tới những mục tiêu nhất định [11]. Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước tiên hành đối với tấ cả mọi cá nhân và tô chức trong xã hội, trên tắt cả các mặt hàng của đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà.

cường chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ chung của cả cộng đồng, duy tri én định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo một định hướng thống nhất của Nhà nước [1 1]. Quản lý nhà nước đối với nền kinh tế quắc dân (gọi vẫn tắt là quản by nhà nước vẻ kinh tế) là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực. " kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu. phát triển kinh tế đất nước đã đặt ra, trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao.

Quản lý nhà nước về thủy sán là sự tác động có tô chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên các hoạt động trong lĩnh vực thủy sản nhằm sử dụng. hiệu quả nhất có thể các nguồn lực trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có để đạt được mục tiêu phát triển về thủy sản trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế [14], Các yếu tố cấu thành của QLNN bao gồm: ~ Chủ thể quản lý: Chủ thê QLNN về thủy sản ở Việt Nam là Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có: các cơ chế, nguyên tắc và chế độ hoạt động của chính quyền; nguồn nhân lực của bộ máy công quyền bao. gồm viên chức, công chức, những người thừa hành công vụ, hoặc phục vụ cho các hoạt động khác nhau của các cơ quan trong bộ máy công quyền; hệ thống. tổ chức bộ máy chính quyền nhà nước từ Trung ương đến địa phương bao.

gồm các cơ quan hoạch định chủ trương, chính sách và các cơ quan thực thi I20 52 Luật Thủy Sản 2003 quy định rõ trách nhiệm QLNN (1) Chính phủ 'QLNN về thuỷ sản trong phạm vi cả nước. (2) Bộ Thủy sản (nay là Bộ NN&PTNT) là cơ quan đầu mối giúp 'Chính phủ thực hiện QLNN về thủy sản. (3) Các Bộ, cơ quan ngang Bộ phối hợp với Bộ NN&PTNT thực hiện QLNN về thủy sản. (4) UBND các cắp chịu trách nhiệm QL.NN vẻ thuỷ sản tại địa phương.

~ Đối tượng quản lý: Trong lĩnh vực thủy sản, đối tượng QLNN là: (1) Các tổ chức kinh tế hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận: doanh nghiệp. 12 nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, các công ty, hộ kinh doanh. (2) Các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động không vì lợi nhuân như: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, các tổ chức từ thiện (3) Các tổ chức Phi chính phủ hoạt động vì sự phát triển cộng đồng. ~ Mục tiêu quản ý: Mục tiêu QLNN về thủy sản là phải phát huy được hết thế mạnh của thủy sản tại địa phương: sử dụng sao cho có hiệu quả cao nhất diện tích mặt nước có sẵn trong quá trình NTTS cho hai mục đích: sản xuất kinh doanh (SXKD) hoặc mục đích bảo tồn tự nhiên [20].

Đặc điểm của ngành thủy sản ảnh hướng đến công tác quản. lý nhà nước về thủy sản. Đối tượng sản xuất thủy sản là các sinh vật sống trong nước. ~Sinh vật sống trong nước là các loại động thực vật như tôm, cua, cá, rong, rêu,.

sống trong môi trường nước mặt. Môi trường nước mặt bao gồm. 'biển và các mặt nước trong nội địa. ~ Trữ lượng thủy sản trong một ngư trường rất khó xác định do các sinh vật có thể di chuyển từ vùng này sang vùng khác.

Vì vậy, để bảo vệ và khai thác các nguồn lợi thủy sản một cách lâu dã và có hiệu quả, bên cạnh việc cần phân chia ranh giới mặt nước, mặt biển cần phối hợp quản lý các hoạt động. thủy sản giữa các địa phương với nhau. Đặc biệt cần ngăn chặn các phương. pháp khai thác lạc hậu làm nghèo nàn hoặc cạn kiệt nguồn lợi thủy sản.

~ Thủy sản rất nhanh bị ươn thối, hư hỏng nên để đảm bảo chất lượng. sản phẩm thì cần có sự phối hợp chặt chẽ từ khâu khai thác đến chế bién và tiêu thụ sản phẩm; đầu tư cơ sở hạ tằng dịch vụ một cách đồng bộ. Công tác 'QLNN cần kết nối những khâu này lại để thúc đẩy hoạt động thủy sản có thể phát triển theo chiễu sâu, ngày cảng chuyên môn hóa các khâu. Thủy vực là tư liệu sản xuất không thể thay thế ~ Thủy vực là tư liệu sản xuất chính yếu không thể thay thế của ngành.

13 thủy sản, thông thường thủy vực sẽ được sử dụng cho nhiều mục tiêu khác nhau như: tưới tiêu kết hợp nuôi cá, giao thông đường thủy, cung cấp nước. Do vậy, dé bảo vệ và sử dụng thủy vực một cách hiệu quả cằn chú ý những vấn đề: (1) Thực hiện quy hoạch các loại hình thủy vực và xác định hướng sử dụng thủy vực cho thủy sản, (2) Chú trọng việc bảo vệ môi trường nước kể cả nước biển, (3) Sử dụng thủy vực một cách tiết kiệm, cần hạn chế chuyển mục đích sử dụng thủy vực là các ao hồ sang đắt xây dựng cơ. bản © Ngành thủy sản là ngành sản xuất có tính hỗn hợp và tính liên ngành cao Thủy sản là một ngành sản xuất vật chất bao gồm các hoạt động sản xuất có tinh cl tương đối khác nhau nhưng có mối liên kết chặt chẽ với nhau như hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy sản, chế biến thủy sản. Trong quá trình phát triỂn các lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, mức độ chuyên môn hóa các hoạt động sản xuất thủy sản càng ngày cao.

'Việc chuyên môn hóa các hoạt động sản xuất thủy sản phụ thuộc vào nhu cầu. thị trường và nền tảng cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ của từng mỗi hoạt động, điều này tạo nên những ngành chuyên môn hóa hep có tính độc lập một cách tương đối. Mặc dù vậy, bởi vì đặc điểm sản xuất vả tiêu dùng sản phẩm thủy sản mà các hoạt động thủy sản có tính liên kết với nhau và đòi hỏi phải gắn bó trong một thể thống nhất, ở trình độ cao hơn mang tính liên ngành. Như vậy, các hoạt động sản xuất thủy sản vừa có h hỗn hợp vừa có tính liên ngành cao tạo thành đặc điểm của ngành thủy sản “Tính hỗn hợp và tính liên ngành cao của các hoạt động sản xuất có tính chất tương đối khác nhau làm cho ngành thủy sản vừa có tính chất của một ngành sản xuất công nghiệp, vừa có tính chất của sản xuất nông nghiệp”.

Điều này làm cho công tác QLNN ngành thủy sản phải dựa trên tính chất độc. 14 lập của từng hoạt động thủy sản và mối liên hệ chặt chẽ mang tính liên ngành của các hoạt động nay. 44L SXKD thủy sản đòi hái vẫn đầu tư ban đầu lớn và độ rủi ro cao. “Trong hầu hết các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt thủy sản đều yêu cầu.

đầu tư khâu đầu vào lớn: mua trang thiết bị, cải tạo đầm nuôi trồng, đóng tàu thuyền, xăng xe. Nhu cầu vốn đầu tư lớn như trên vượt quá khả năng của từng chủ thể trong nền kinh tế, nhất là các hộ gia đình. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, thiên tai gây ra nhiều thiệt hại về tàu thuyền lớn cho ngư dân, thậm chí là về con người, nhất là ngư dân đánh bắt xa bờ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ